Cảm xúc là gì? Quản trị năng lượng cảm xúc

Cảm xúc là một trạng thái sinh học liên quan đến hệ thần kinh. Cảm xúc được trải nghiệm ngay lập tức, xuất hiện tại một thời điểm nhất định và có xu hướng hành động theo hai cực là tích cực hoặc tiêu cực (Vui vẻ, Buồn bã, Sợ hãi, Chán ghét, Giận dữ, Ngạc nhiên, Hy vọng, và Tin tưởng…)

Cảm Xúc Là Gì?

  • Cảm xúc là dòng năng lượng chuyển động (Energy Motion) trong cơ thể.
  • Cảm xúc là một trạng thái sinh học liên quan đến hệ thần kinh.
  • Cảm xúc là những phản ứng RUNG ĐỘNG tự nhiên đối với từng sự vật, hiện tượng trong những tình huống nhất định. 

Cảm xúc được trải nghiệm ngay lập tức và hành động theo hai cực: TÍCH CỰC hoặc TIÊU CỰC.

Các trạng thái cảm xúc đơn lẻ hiếm khi tồn tại lâu hơn 15 phút.

(Theo GS tâm lý học Daniel Goleman, sách Emotional Intelligent)

Cảm xúc tích cực là gì?

Cảm xúc tích cực là phản ứng của con người trước những sự việc xảy trong cuộc sống tạo nên sự THOẢI MÁI, DỄ CHỊU cảm thấy tâm trạng VUI, HẠNH PHÚC, SUNG SƯỚNG. Cảm xúc tích cực giúp tăng sự chú ý, trí nhớ, nhận thức.

Các cảm xúc tích cực:

  • Chấp nhận : sẵn sàng chấp thuận một tình huống cụ thể xảy ra đối với bản thân mình, mặc dù đó có thể là một tình huống xấu nhất.
  • Tình cảm : đó là một cảm xúc xuất hiện khi chúng ta cảm thấy yêu ai đó hoặc yêu một điều gì đó mà chúng ta nhìn thấy hoặc cảm nhận được.
  • Sự trân trọng : cảm giác quý trọng đối với người đã làm điều gì đó cho chúng ta và chúng ta có cảm giác muốn trả ơn cho người đó.
  • Niềm vui : cảm giác thể hiện từ trạng thái tâm trí tốt, bao gồm sự hài lòng và đi kèm với nụ cười.
  • Yêu thương : cảm giác yêu mến ai đó hoặc điều gì đó, nó sẽ giúp đưa chúng ta đến gần hơn với cảm giác hạnh phúc.
  • Hạnh phúc : đây là một trạng thái cảm xúc mà người đó cảm nhận được sự cân bằng trong các hoạt động diễn ra một cách tốt nhất giữa cuộc sống và tâm linh của chính bản thân mình.
  • Vui vẻ : đó là cảm xúc tập trung sự chú ý vào những trò giải trí tạo cảm giác khỏe khoắn, sôi động.
  • Sự nhiệt tình : nó được sinh ra từ niềm đam mê đối với một cái gì đó hoặc một ai đó.
  • Hy vọng : tự tin đạt được điều mình muốn.
  • Cực khoái : là cảm giác hài lòng, vui sướng tuyệt đối.
  • Ham muốn : là cảm xúc rất mãnh liệt được tạo ra bởi thứ mà bạn thực sự yêu thích.
  • Hài hước : trạng thái cho phép tập trung sự chú ý vào khía cạnh châm biếm, vui nhộn giải tỏa đối với những gì xảy ra với chúng ta.
  • Ảo tưởng : hy vọng hoặc phấn khích về điều gì đó.
  • Động lực : phản ứng với những gì chúng ta phải làm, nó khuyến khích chúng ta làm với sự nhiệt tình và dễ dàng đạt hiệu quả hơn.
  • Đam mê : nó xuất phát từ tình yêu và nó có xu hướng thể hiện ra ngoài lĩnh vực tình dục.
  • Sự hài lòng : hiệu ứng sinh ra từ việc hoàn thành một việc gì đó, được hoàn thành tốt và điều đó giúp tăng cường sự tự tin và lòng tự tin ở bản thân.

Lợi: Giảm căng thẳng và tăng cường hạnh phúc, Tăng hiệu suất làm việc

Cảm xúc tiêu cực là gì?

Cảm xúc tiêu cực được định nghĩa là tập hợp của các cảm xúc kích thích cảm giác khó chịu và coi tình huống đang được xuất hiện tại ngay lúc đó là có hại, cho phép người đó kích hoạt các nguồn lực nhằm để đối phó với tình huống đó.

Các cảm xúc tiêu cực:

  • Chán nản : một trạng thái tâm trí nảy sinh khi thiếu sự quan tâm hoặc các kích thích.
  • Quá áp lực : cảm giác ám chỉ một gánh nặng cảm xúc tạo ra sự mệt mỏi.
  • Uể oải : trạng thái tâm trí liên quan đến sự bồn chồn, phát sinh do lo lắng hoặc đau khổ.
  • Lo lắng : trạng thái bồn chồn, liên quan đến sự phấn khích cao độ về thể chất và tinh thần.
  • Chán ghét : cảm giác không thích liên quan đến điều gì đó hoặc ai đó, tạo ra sự từ chối những điều đang chán ghét đó.
  • Cảm giác tội lỗi : cảm giác vô trách nhiệm đối với một sự kiện hoặc hành động, có tính chất tiêu cực.
  • Thất vọng : cảm giác thất vọng. Nó phát sinh trong một tình huống không diễn ra như người ta mong đợi.
  • Tuyệt vọng : nảy sinh từ sự mất kiên nhẫn, khi cho rằng những gì người đó đang đối mặt là không thể sửa chữa được hoặc do bất lực không thể vượt qua nó thành công.
  • Ngao ngán : cảm giác được tạo ra trước một kết quả không được mong đợi hoặc mong muốn.
  • Căng thẳng : cảm thấy choáng ngợp trước một tình huống nào đó, do yêu cầu về hiệu suất mà không thể đạt được hoặc đang gặp áp lực nặng nề để giải quyết.
  • Tự ti : không có khả năng làm hài lòng một mục tiêu hoặc mong muốn.
  • Sự phẫn nộ : tức giận đối với một người hoặc hành động bị coi là không công bằng.
  • Giận dữ : cảm xúc chính biểu thị một sự tức giận rất lớn đối với một người hoặc một tình huống.
  • Sợ hãi : đau khổ do nhận thức được nguy hiểm đang gặp phải.
  • Thấp thỏm : trạng thái lo lắng về một vấn đề hoặc tình huống.
  • Bực bội : cảm giác tức giận có xu hướng đi kèm với biểu hiện của sự tức giận này: la hét, hành động thô bạo, hành vi bạo lực, …
  • Ân hận : cảm giác tội lỗi cho một hành động đã được thực hiện.
  • Thù hận: thù địch với ai đó, do một số nguyên nhân trước đó với người đó có thể làm hại hoặc xúc phạm bạn.
  • Buồn bã : cảm giác đau đớn về tinh thần, do một yếu tố kích hoạt gây ra và liên quan đến những suy nghĩ với giọng điệu bi quan, dễ bị tổn thương và có xu hướng khóc.
  • Xấu hổ : sự khó chịu do một hành động mà người đó cảm thấy bị sỉ nhục hoặc vì sợ bị lố bịch hoặc người khác sẽ làm điều đó.

Tác hại: Ảnh hưởng phổi, Gây hại cho tim, Mất ngủ

Rối loạn cảm xúc

Rối loạn cảm xúc là một hội chứng bất thường của não bộ khi tâm lý có sự thay đổi không ổn định về mặt cảm xúc. Chuyển đổi tâm trạng từ hưng phấn sang trầm cảm một cách nhanh chóng và xen kẽ, và được chia thành 2 nhóm: rối loạn trầm cảmhội chứng hưng cảm.

Rối loạn trầm cảm: 
Rối loạn trầm cảm là một trong những rối loạn khí sắc trầm, tăng sự mệt mỏi, giảm năng lượng, đánh mất hứng thú và sự quan tâm với mọi thứ xung quanh.

  • Khí sắc trầm buồn
  • Mất hứng thú – ngay cả với những hoạt động, món ăn,… yêu thích trước đây
  • Ngủ nhiều hoặc ngủ ít
  • Sụt cân bất thường (5%/ tháng) hoặc lên cân do ăn uống quá mức
  • Dễ kích động, chậm chạp
  • Mất tự tin
  • Giảm tính tự trọng
  • Giảm mức độ tập trung, chú ý     
  • Dễ khóc
  • Luôn có cảm giác
  • Cảm giác tiêu cực, tuyệt vọng
  • Có ý nghĩ tự tử hoặc thử tự tử
  • Xuất hiện một số triệu chứng thể chất như khó chịu, bồn chồn, táo bón và (hoặc) các triệu chứng sinh lý như mất kinh nghiệm, ngủ không ngon, giảm ham muốn, thay đổi cân nặng, thay đổi khẩu vị ăn uống.

Hội chứng hưng cảm: 
Hưng cảm là tình trạng khí sắc dao động bất thường từ trạng thái kích thích sang hưng phấn, ức chế và trầm cảm. Các triệu chứng của bệnh có tính chất chu kỳ và xen kẽ giữa các giai đoạn này là những giai đoạn khí sắc bình thường, ổn định.

  • Tự đánh giá cao bản thân, thường xuyên có ý nghĩ tự cao
  • Giảm nhu cầu ngủ (thường dưới 3 giờ)
  • Tư duy nhanh, dồn dập, xuất hiện nhiều ý tưởng trong đầu
  • Nói nhiều hơn mức bình thường
  • Có hành vi kích động
  • Có nhiều mục tiêu, dự định trong công việc, học tập
  • Đôi khi gây tăng hoạt động tình dục
  • Xuất hiện những hoạt động thái quá tiềm ẩn rủi ro, nguy cơ (đầu tư một cách không suy nghĩ, mua sắm quá mức cần thiết, có hành vi tình dục bất thường,…)

Trí tuệ cảm xúc là gì?

Trí tuệ cảm xúc (EQ – Emotional Quotient/ Emotional Intelligence) là khả năng xác định, kiểm soát cảm xúc, suy nghĩ của bản thân và người xung quanh. Vì vậy EQ là chỉ số đo lường trí tuệ về cảm xúc của con người và là yếu tố quyết định hành vi của người đó. 

Cảm xúc là gì? Quản trị năng lượng cảm xúc

IQ (Intelligence Quotient) – Trí thông minh

EQ (Emotional Quotient/Emotional Intelligence) – Trí tuệ cảm xúc

AQ (Adversity Quotient) – Chỉ số vượt khó

CQ (Creative Intelligence) – Tư duy sáng tạo

SQ (Spiritual Quotient) – Thông minh tinh thần

PQ (Passion Quotient) – Đam mê

FQ (Financial Intelligence Quotient) – Trí tuệ tài chính

MuQ (Musical Intelligence Quotient) – Trí thông minh âm nhạc

CoQ (Communication Intelligence Quotient) – Giao tiếp

SEQ (Social Intelligence Quotient) – Trí thông minh xã hội

5 Thành tố chính của trí tuệ cảm xúc

1. Tự nhận thức (Self-Awareness)

Đây là thành tố đầu tiên của trí thông minh cảm xúc. Tự nhận thức có nghĩa là có sự thấu hiểu về cảm xúc, điểm mạnh, điểm yếu, nhu cầu và động lực của bản thân. Tự nhận thức khi bạn ở vị trí lãnh đạo cũng có nghĩa là có một bức tranh rõ ràng về điểm mạnh, điểm yếu của bạn và nó có nghĩa là cư xử với sự khiêm nhường.

Vậy, bạn có thể làm gì để cải thiện sự tự nhận thức của mình?

Duy trì một tập “Nhật ký” – “Nhật ký” giúp bạn cải thiện sự tự nhận thức. Nếu bạn dành vài phút mỗi ngày để viết ra suy nghĩ của mình, điều này có thể đưa bạn đến một mức độ tự nhận thức cao hơn.

Bình tĩnh – Khi bạn trải qua sự tức giận hoặc những cảm xúc mạnh mẽ khác, hãy bình tĩnh để xem xét lý do tại sao. Hãy nhớ rằng, bất kể tình huống nào, bạn luôn có thể chọn cách bạn phản ứng với nó. 

2. Tự điều chỉnh (Self-Regulation)

Các nhà lãnh đạo tự điều chỉnh bản thân một cách hiệu quả, hiếm khi “tấn công” bằng lời nói với người khác, đưa ra quyết định vội vàng, mang tính tình cảm hoặc thỏa hiệp các giá trị của họ. Tự điều chỉnh là việc làm cần thiết giúp kiểm soát hiệu quả.

Theo Goleman yếu tố trí tuệ cảm xúc này, cũng thể hiện sự linh hoạt và cam kết của người lãnh đạo đối với trách nhiệm cá nhân.

Làm thế nào bạn có thể cải thiện khả năng tự điều chỉnh?

Biết giá trị của bạn – Đâu là những giá trị quan trọng nhất trong con người bạn? Dành thời gian kiểm tra “quy tắc đạo đức” của bản thân. Nếu bạn biết điều gì là quan trọng nhất đối với bạn, thì có lẽ bạn sẽ không phải suy nghĩ hai lần khi bạn phải đối mặt với một quyết định đạo đức – bạn sẽ có lựa chọn đúng đắn.

Hãy tự chịu trách nhiệm – Nếu bạn có xu hướng đổ lỗi cho người khác khi có sự cố xảy ra, hãy dừng lại. Thực hiện một cam kết thừa nhận sai lầm của bạn và đối mặt với hậu quả, bất kể chúng là gì. Có lẽ bạn sẽ ngủ ngon hơn vào ban đêm và bạn sẽ nhanh chóng nhận được sự tôn trọng của những người xung quanh.

Thực hành bình tĩnh – Lần tới khi bạn ở trong tình huống thử thách, hãy ý thức về cách bạn hành động. Bạn có làm giảm căng thẳng của bạn bằng cách hét vào mặt người khác? Thực hành các bài tập thở sâu để bình tĩnh. Ngoài ra, hãy cố gắng viết ra tất cả những điều tiêu cực bạn muốn nói, sau đó xé nó ra và ném nó đi. Thể hiện những cảm xúc này trên giấy (và không hiển thị chúng cho bất kỳ ai!)

3. Động lực (Motivation) – Nếu có một đặc điểm mà hầu hết tất cả các nhà lãnh đạo hiệu quả đều có thì đó chính là động lực. Các nhà lãnh đạo tự tạo động lực bằng cách làm việc nhất quán hướng tới mục tiêu và có những tiêu chuẩn cực kỳ cao về chất lượng công việc.

Làm thế nào bạn có thể cải thiện động lực của bản thân?

Kiểm tra lại lý do tại sao bạn làm công việc của mình – Thật dễ dàng để quên những gì bạn thực sự yêu thích về sự nghiệp của bạn. Vì vậy, hãy dành một chút thời gian để nhớ tại sao bạn muốn công việc này. Nếu bạn không hài lòng với vai trò của mình và bạn đang cố gắng để nhớ tại sao bạn muốn nó, hãy thử kỹ thuật tìm ra gốc rễ của vấn đề. 

Hãy hy vọng và tìm thấy điều gì đó tốt đẹp – Các nhà lãnh đạo có động lực thường lạc quan, không có vấn đề gì mà không có cách giải quyết. Áp dụng tư duy này có thể cần thực hành, nhưng nó cũng đáng nỗ lực.

Mỗi khi bạn đối mặt với thử thách, hoặc thậm chí là thất bại, hãy cố gắng tìm ra ít nhất một điều tốt về tình huống này. Nó có thể là một điều nhỏ bé, như một liên hệ mới, hoặc một cái gì đó có tác dụng lâu dài, như một bài học quan trọng đã học. Nhưng hầu như luôn luôn có một cái gì đó tích cực, nếu bạn tìm kiếm nó.

4. Sự thấu cảm (Empathy)

Đối với các nhà lãnh đạo, có sự thấu cảm là rất quan trọng để quản lý một nhóm hoặc tổ chức thành công. Các nhà lãnh đạo có sự thấu cảm có khả năng đặt mình vào tình huống của người khác. Họ giúp phát triển những người trong nhóm của họ, thách thức những người khác đang hành động không công bằng, đưa ra phản hồi mang tính xây dựng và lắng nghe những người xung quanh.

Nếu bạn muốn có được sự tôn trọng và trung thành của đội ngũ, thì hãy cho họ thấy bạn quan tâm bằng cách thấu cảm.

Làm thế nào bạn có thể cải thiện sự thấu cảm của bản thân?

Đặt mình vào vị trí của người khác – Thật dễ dàng để hỗ trợ quan điểm của riêng bạn. Sau tất cả, nó vẫn là của bạn! Nhưng hãy dành thời gian để xem xét các tình huống từ quan điểm của người khác. 

Chú ý đến ngôn ngữ cơ thể – Có lẽ khi bạn lắng nghe ai đó, bạn khoanh tay, di chuyển chân qua lại hoặc cắn môi. Ngôn ngữ cơ thể này nói cho người khác biết bạn thực sự cảm thấy thế nào về một tình huống và thông điệp bạn đưa ra không tích cực! Học cách đọc ngôn ngữ cơ thể có thể là một tài sản thực sự trong vai trò lãnh đạo, bởi vì bạn sẽ có thể xác định tốt hơn cảm giác của một người nào đó. Điều này cung cấp cho bạn cơ hội để đáp ứng một cách thích hợp.

Đáp lại cảm xúc – Bạn yêu cầu trợ lý của bạn làm việc muộn. Mặc dù anh ấy đồng ý, bạn có thể cảm nhận thấy sự thất vọng trong giọng nói của anh ấy. Vì vậy, hãy đáp lại bằng cách giải quyết cảm xúc của anh ấy. Nói với anh ấy rằng bạn đánh giá cao việc anh ấy sẵn sàng làm thêm giờ và bạn cảm thấy phiền lòng về điều đó. Nếu có thể, hãy tìm ra một cách để “bù đắp” cho anh trợ lý đó (ví dụ, cho anh ấy nghỉ buổi sáng thứ hôm sau).

5. Kỹ năng xã hội (Social Skills)

Các nhà lãnh đạo làm tốt các yếu tố kỹ năng xã hội của trí tuệ cảm xúc là những người giao tiếp tuyệt vời. Kỹ năng xã hội không đơn giản là vấn đề thân thiện với người khác. Trong môi trường kinh doanh, đây là khả năng quản lý mối quan hệ với mọi người xung quanh.

Các nhà lãnh đạo có kỹ năng xã hội tốt cũng giỏi quản lý thay đổi và giải quyết xung đột về mặt ngoại giao, họ luôn làm gương với hành vi của chính họ.

Vì vậy, làm thế nào bạn có thể xây dựng các kỹ năng xã hội?

1. Tự nhận thức (Self-Awareness)

Đây là thành tố đầu tiên của trí thông minh cảm xúc. Tự nhận thức có nghĩa là có sự thấu hiểu về cảm xúc, điểm mạnh, điểm yếu, nhu cầu và động lực của bản thân. Tự nhận thức khi bạn ở vị trí lãnh đạo cũng có nghĩa là có một bức tranh rõ ràng về điểm mạnh, điểm yếu của bạn và nó có nghĩa là cư xử với sự khiêm nhường.

Vậy, bạn có thể làm gì để cải thiện sự tự nhận thức của mình?

Duy trì một tập “Nhật ký” – “Nhật ký” giúp bạn cải thiện sự tự nhận thức. Nếu bạn dành vài phút mỗi ngày để viết ra suy nghĩ của mình, điều này có thể đưa bạn đến một mức độ tự nhận thức cao hơn.

Bình tĩnh – Khi bạn trải qua sự tức giận hoặc những cảm xúc mạnh mẽ khác, hãy bình tĩnh để xem xét lý do tại sao. Hãy nhớ rằng, bất kể tình huống nào, bạn luôn có thể chọn cách bạn phản ứng với nó. 

2. Tự điều chỉnh (Self-Regulation)

Các nhà lãnh đạo tự điều chỉnh bản thân một cách hiệu quả, hiếm khi “tấn công” bằng lời nói với người khác, đưa ra quyết định vội vàng, mang tính tình cảm hoặc thỏa hiệp các giá trị của họ. Tự điều chỉnh là việc làm cần thiết giúp kiểm soát hiệu quả.

Theo Goleman yếu tố trí tuệ cảm xúc này, cũng thể hiện sự linh hoạt và cam kết của người lãnh đạo đối với trách nhiệm cá nhân.

Làm thế nào bạn có thể cải thiện khả năng tự điều chỉnh?

Biết giá trị của bạn – Đâu là những giá trị quan trọng nhất trong con người bạn? Dành thời gian kiểm tra “quy tắc đạo đức” của bản thân. Nếu bạn biết điều gì là quan trọng nhất đối với bạn, thì có lẽ bạn sẽ không phải suy nghĩ hai lần khi bạn phải đối mặt với một quyết định đạo đức – bạn sẽ có lựa chọn đúng đắn.

Hãy tự chịu trách nhiệm – Nếu bạn có xu hướng đổ lỗi cho người khác khi có sự cố xảy ra, hãy dừng lại. Thực hiện một cam kết thừa nhận sai lầm của bạn và đối mặt với hậu quả, bất kể chúng là gì. Có lẽ bạn sẽ ngủ ngon hơn vào ban đêm và bạn sẽ nhanh chóng nhận được sự tôn trọng của những người xung quanh.

Thực hành bình tĩnh – Lần tới khi bạn ở trong tình huống thử thách, hãy ý thức về cách bạn hành động. Bạn có làm giảm căng thẳng của bạn bằng cách hét vào mặt người khác? Thực hành các bài tập thở sâu để bình tĩnh. Ngoài ra, hãy cố gắng viết ra tất cả những điều tiêu cực bạn muốn nói, sau đó xé nó ra và ném nó đi. Thể hiện những cảm xúc này trên giấy (và không hiển thị chúng cho bất kỳ ai!)

3. Động lực (Motivation) – Nếu có một đặc điểm mà hầu hết tất cả các nhà lãnh đạo hiệu quả đều có thì đó chính là động lực. Các nhà lãnh đạo tự tạo động lực bằng cách làm việc nhất quán hướng tới mục tiêu và có những tiêu chuẩn cực kỳ cao về chất lượng công việc.

Làm thế nào bạn có thể cải thiện động lực của bản thân?

Kiểm tra lại lý do tại sao bạn làm công việc của mình – Thật dễ dàng để quên những gì bạn thực sự yêu thích về sự nghiệp của bạn. Vì vậy, hãy dành một chút thời gian để nhớ tại sao bạn muốn công việc này. Nếu bạn không hài lòng với vai trò của mình và bạn đang cố gắng để nhớ tại sao bạn muốn nó, hãy thử kỹ thuật tìm ra gốc rễ của vấn đề. 

Hãy hy vọng và tìm thấy điều gì đó tốt đẹp – Các nhà lãnh đạo có động lực thường lạc quan, không có vấn đề gì mà không có cách giải quyết. Áp dụng tư duy này có thể cần thực hành, nhưng nó cũng đáng nỗ lực.

Mỗi khi bạn đối mặt với thử thách, hoặc thậm chí là thất bại, hãy cố gắng tìm ra ít nhất một điều tốt về tình huống này. Nó có thể là một điều nhỏ bé, như một liên hệ mới, hoặc một cái gì đó có tác dụng lâu dài, như một bài học quan trọng đã học. Nhưng hầu như luôn luôn có một cái gì đó tích cực, nếu bạn tìm kiếm nó.

4. Sự thấu cảm (Empathy)

Đối với các nhà lãnh đạo, có sự thấu cảm là rất quan trọng để quản lý một nhóm hoặc tổ chức thành công. Các nhà lãnh đạo có sự thấu cảm có khả năng đặt mình vào tình huống của người khác. Họ giúp phát triển những người trong nhóm của họ, thách thức những người khác đang hành động không công bằng, đưa ra phản hồi mang tính xây dựng và lắng nghe những người xung quanh.

Nếu bạn muốn có được sự tôn trọng và trung thành của đội ngũ, thì hãy cho họ thấy bạn quan tâm bằng cách thấu cảm.

Làm thế nào bạn có thể cải thiện sự thấu cảm của bản thân?

Đặt mình vào vị trí của người khác – Thật dễ dàng để hỗ trợ quan điểm của riêng bạn. Sau tất cả, nó vẫn là của bạn! Nhưng hãy dành thời gian để xem xét các tình huống từ quan điểm của người khác. 

Chú ý đến ngôn ngữ cơ thể – Có lẽ khi bạn lắng nghe ai đó, bạn khoanh tay, di chuyển chân qua lại hoặc cắn môi. Ngôn ngữ cơ thể này nói cho người khác biết bạn thực sự cảm thấy thế nào về một tình huống và thông điệp bạn đưa ra không tích cực! Học cách đọc ngôn ngữ cơ thể có thể là một tài sản thực sự trong vai trò lãnh đạo, bởi vì bạn sẽ có thể xác định tốt hơn cảm giác của một người nào đó. Điều này cung cấp cho bạn cơ hội để đáp ứng một cách thích hợp.

Đáp lại cảm xúc – Bạn yêu cầu trợ lý của bạn làm việc muộn. Mặc dù anh ấy đồng ý, bạn có thể cảm nhận thấy sự thất vọng trong giọng nói của anh ấy. Vì vậy, hãy đáp lại bằng cách giải quyết cảm xúc của anh ấy. Nói với anh ấy rằng bạn đánh giá cao việc anh ấy sẵn sàng làm thêm giờ và bạn cảm thấy phiền lòng về điều đó. Nếu có thể, hãy tìm ra một cách để “bù đắp” cho anh trợ lý đó (ví dụ, cho anh ấy nghỉ buổi sáng thứ hôm sau).

5. Kỹ năng xã hội (Social Skills)

Các nhà lãnh đạo làm tốt các yếu tố kỹ năng xã hội của trí tuệ cảm xúc là những người giao tiếp tuyệt vời. Kỹ năng xã hội không đơn giản là vấn đề thân thiện với người khác. Trong môi trường kinh doanh, đây là khả năng quản lý mối quan hệ với mọi người xung quanh.

Các nhà lãnh đạo có kỹ năng xã hội tốt cũng giỏi quản lý thay đổi và giải quyết xung đột về mặt ngoại giao, họ luôn làm gương với hành vi của chính họ.

Vì vậy, làm thế nào bạn có thể xây dựng các kỹ năng xã hội?

Học cách khen ngợi người khác – Là một nhà lãnh đạo, bạn có thể truyền cảm hứng cho lòng trung thành của nhóm của bạn chỉ bằng cách khen ngợi những nỗ lực thậm chí là nhỏ nhất hoặc thành quả của một ai đó. Học cách khen ngợi người khác là một nghệ thuật tốt, rất đáng nỗ lực.

Lợi ích của trí tuệ cảm xúc

Cảm xúc là gì? Quản trị năng lượng cảm xúc

Giúp lãnh đạo: Tăng khả năng ảnh hưởng và kết nối nhóm

Giúp tổ chức: Nhận viên trí tuệ cảm xúc cao sẽ làm việc hiệu quả hơn và đem lại thành công cho tổ chức

Giúp đội nhóm: Gắn kết, hòa hợp, hiệu quả

Giúp bản thân: Ít bị stress, sức khỏe tốt, thành công trong công việc, cân bằng công việc và cuộc sống
Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình: Hiểu nhau hơn và sống vui vẻ hạnh phúc

Thay đổi số phận của chủ thể theo hướng tích cực: chế ngự, biết điểm mạnh, điểm yếu để phát huy hoặc khắc phục

Xây dựng tốt các mối quan hệ xã hội: gia đình, công việc, bạn bè… thông qua quá trình đồng cảm, cảm xúc của người khác

Biểu hiện về khí chất

Hạnh phúc và Yêu thương là cảm xúc duy nhất mà một người gia tăng cảm giác trên toàn bộ cơ thể

Cảm xúc là gì? Quản trị năng lượng cảm xúc
Màu nóng chính là màu đỏ, vàng và màu da cam tượng trưng cho xu hướng gia tăng các hoạt động của bộ phận trên cơ thể trong khi những màu tối và màu xanh da trời đại diện cho sự đối lập lại. Màu đen thể hiện sự trung lập.

Quản Trị Cảm Xúc

Kỹ năng quản trị cảm xúc là khả năng nhận thức, sẵn sàng chấp nhận, cũng như kiểm soát thành công cảm xúc của bản thân và đôi khi là cả người khác. Nói một cách đơn giản hơn, kỹ năng quản lý cảm xúc đề cập đến khả năng làm chủ cảm xúc của chính mình.

Quản Lý Cảm Xúc Theo Mô Hình CTFAR

Mô hình này được viết tắt là CTFAR, hay còn được gọi là thought model.

C là Circumstances, nghĩa là ngoại cảnh.

T là Thinking, nghĩa là suy nghĩ.

F là Feeling, nghĩa là cảm xúc.

A là Action, nghĩa là hành động.

R là Result, nghĩa là kết quả.

Tổng quan mô hình CTFAR

Yếu tố trong mô hình quản lý cảm xúc liên hệ như sau: ngoại cảnh tác động suy nghĩ, suy nghĩ sinh ra cảm xúc, cảm xúc dẫn đến hành động, hành động dẫn đến kết quả, kết quả quay trở lại ảnh hưởng ngoại cảnh.

Đây là một vòng xoáy tuần hoàn, cũng là lý do tại sao chúng ta lại khó thoát ra khỏi cảm xúc của mình, nhất là cảm xúc tiêu cực.

Cảm xúc là gì? Quản trị năng lượng cảm xúc

Một ví dụ minh họa như sau. Khi bạn nghe được một lời phê bình từ người khác (ngoại cảnh) thì trong lòng bạn sinh ra những suy nghĩ như: “Chắc là nó muốn dìm mình đấy”, “Chuyện đó mà cũng nói, thật là nhỏ nhặt.”, “Trước nói mình, nó có tự nhìn lại mình chưa?”.

Khi nghĩ như vậy, trong người bạn cơn tức (cảm xúc) dâng lên. Cảm xúc này làm cho bạn không tiếp thu, hoặc tấn công lại phê bình mình (hành động). Bạn càng hành động như thế thì người kia càng cảm xúc hơn, phê bình ban đầu là nhẹ nhàng, lúc sau thì căng thẳng hơn (kết quả).

Kết quả như vậy tiếp tục cho những suy nghĩ ban đầu của bạn. Thế là mọi thứ tiếp tục mất kiểm soát cho đến khi bạn biết điểm dừng. Dù có dừng hay không thì cả hai cũng đã tổn thương.

Quy trình phát triển trí tuệ cảm xúc theo mô hình EI 97

(Tamly) – Hiện nay, sau hơn 17 năm kể từ khi hai nhà tâm lý học Mỹ John Mayer và Peter Salovey công bố mô hình lý thuyết về trí tuệ cảm xúc (Emotional intelligence – EI) vào năm 1990, loại trí tuệ này trở thành một vấn đề được giới chuyên môn quan tâm nghiên cứu, ứng dụng khá rộng rãi ở nhiều nước khác nhau, trong đó có Việt Nam. EI không chỉ được nghiên cứu dưới góc độ Tâm lý học mà cả dưới góc độ Giáo dục học, Khoa học về con người, Tâm thần học và Khoa học tổ chức quản lý nhân sự v.v… 

Cho đến nay, các nhà Tâm lý học thế giới, bên cạnh việc tiếp tục khám phá lĩnh vực EI, đã thừa nhận:“Dựa trên bằng chứng hiện thời, chúng tôi đề xuất rằng lĩnh vực này sẽ thu được nhiều ích lợi nếu các nhà nghiên cứu EI nghiên cứu căn cứ theo mô hình EI dựa trên năng lực của J.Mayer, P. Salovey và cộng sự (1997)” (Aljoscha C.Neubauer, H.Harald Freudenthaler, Viện Tâm lý học, Đại học Gzar, áo, 2006). Trong bài viết này, sau khi giới thiệu ngắn gọn về các mô hình thuần năng lực EI 90 và EI 97 của P. Salovey và J. Mayer, sẽ trình bày qui trình phát triển EI dưới quan niệm lý thuyết của các tác giả này.

1. Mô hình trí tuệ cảm xúc thuần năng lực EI 97 của J. Mayer và P. Salovey

Đóng góp vào việc trả lời câu hỏi tâm lý học về mối tương quan giữa trí tuệ và cảm xúc, năm 1990, hai nhà tâm lý học Mỹ J. Mayer và P. Salovey đã đề xuất mô hình trí tuệ cảm xúc thuần năng lực – được gọi là EI 90. EI 90 bao gồm ba quá trình trí tuệ (mantal process) liên quan với nhau và hàm chứa các thông tin cảm xúc. Những quá trình đó là: 1) Đánh giá và biểu hiện xúc cảm, 2) Điều khiển hoặc kiểm soát xúc cảm, và 3) Sử dụng xúc cảm một cách phù hợp cho hoạt động. Mô hình EI 90 cho thấy những cá nhân có EI phát triển cao thường đặc biệt thành công trong những lĩnh vực nhất định như: a) Nhận thức và đánh giá chính xác xúc cảm của bản thân, b) Biểu lộ tình cảm xúc cảm với những người khác một cách đúng đắn, phù hợp, c) Nhận biết tốt về xúc cảm của người khác và từ đó có những hành vi xã hội phù hợp, d) Điều chỉnh xúc cảm của bản thân và người khác một cách có hiệu quả để đạt đến mục đích hành động cụ thể (ví dụ: để cải thiện tâm trạng của chính mình và của người khác) và e) Sử dụng những xúc cảm của mình để giải quyết vấn đề bằng những hành vi phù hợp hoàn cảnh.

Sau bảy năm nghiên cứu và ứng dụng EI 90, các tác giả đã nhận ra những thiếu sót của mô hình này và đã cùng với đồng nghiệp là David Caruso đổi mới, bổ sung vào mô hình EI 90 để cho ra đời quan niệm mới về trí tuệ cảm xúc vào năm 1997, thể hiện ở mô hình EI 97. Theo đó, họ định nghĩa: “Trí tuệ cảm xúc là năng lực nhận thức chính xác, đánh giá và bộc lộ xúc cảm; năng lực tiếp cận và/hoặc tạo ra xúc cảm khi những xúc cảm này tạo điều kiện thúc đẩy tư duy; năng lực hiểu xúc cảm và có kiến thức về xúc cảm; và năng lực điều chỉnh những xúc cảm để đẩy nhanh sự phát triển về xúc cảm và trí tuệ” (J. Mayer và P. Salovey, 1997).

Mô hình EI 97 bao gồm bốn năng lực xúc cảm:

(1) Nhận thức chính xác xúc cảm của bản thân, người khác và môi trường;

(2) Sử dụng xúc cảm để đẩy mạnh tư duy và để tạo ra một sự chia xẻ xúc cảm tương ứng;

(3) Hiểu được nguyên nhân của xúc cảm và chúng biến đổi qua thời gian như thế nào;

(4) Kiểm soát sự kết hợp của lập luận và dữ kiện về những xúc cảm để ra những quyết định chiến lược.

Những tên ngắn gọn cho những năng lực này là: (1) Nhận thức xúc cảm; (2) Sử dụng xúc cảm; (3) Hiểu rõ xúc cảm; (4) Kiểm soát xúc cảm.

Trong khi mô hình EI 90 chưa được xem xét như một mô hình qui trình liên tục thì ở mô hình EI 97, sau nhiều năm nghiên cứu thử nghiệm, cập nhật tri thức, số liệu khoa học, các tác giả J. Mayer, P. Salovey và D. Caruso đã chứng minh rằng, các năng lực này không chỉ có quan hệ về mặt cấu trúc tâm lý mà hơn nữa chúng còn có quan hệ về qui trình thứ tự hình thành theo bốn bước mà tiếp theo đây sẽ được trình bày một cách chi tiết hơn.

2. Qui trình phát triển EI của D. Caruso

Việc tiếp cận khái niệm EI đã và đang được thực hiện theo hai con đường: Thứ nhất, EI được phổ biến đến công chúng và các nhà chuyên môn thông qua những tạp chí chuyên ngành và các bài báo phổ biến kiến thức khoa học hoặc những cuốn sách phổ biến khoa học và thứ hai là EI được biết đến qua các tài liệu công bố về kết quả nghiên cứu học thuật nghiêm ngặt. Chính vì vậy, EI có thể mang ý nghĩa khác nhau với mọi người, và dường như, hiện nay, đang tồn tại sự khác biệt trong việc sử dụng thuật ngữ này giữa các nhà nghiên cứu học thuật và những người thực hành ứng dụng. Ngay ở Mỹ – nơi các mô hình lý thuyết về EI được đề xuất – đã có không ít các chương trình huấn luyện tuy “đóng mác” EI nhưng nội dung lại chẳng liên quan gì đến cả trí tuệ lẫn xúc cảm do không dựa trên một nền tảng lý thuyết với tính chính xác và độ tin cậy cao. Khi bàn về vấn đề này, D. Caruso ở Đại học Yale đã đưa ra lời khuyên rằng, “Những người làm huấn luyện EI không nên chấp nhận sử dụng hoặc cho phép thực hiện một chương trình tiếp cận EI một cách dễ dãi. Hãy chỉ sử dụng những qui trình huấn luyện EI được soạn thảo dựa trên nền tảng lý thuyết trí tuệ cảm xúc được định nghĩa khoa học, rõ ràng và chính xác”.

Dựa trên mô hình trí tuệ cảm xúc thuần năng lực EI 97, nhà tâm lý học Mỹ D. Caruso và các cộng sự đề xuất một qui trình phát triển EI gồm bốn giai đoạn gắn liền với bốn thành tố trí tuệ tạo nên trí tuệ cảm xúc của mỗi cá nhân. 

Sau đây là mô tả cụ thể về bốn bước đó:

Bước 1: Nhận thức chính xác về xúc cảm – Kết hợp những dữ kiện sẵn có:

Bước đầu tiên của qui trình này là nhận thức về xúc cảm. ở đây không chỉ đơn thuần là có ý thức về xúc cảm mà là năng lực dựa trên sự nhận thức chính xác xúc cảm của chúng ta cũng như của người khác hay môi trường xã hội nói chung. Như trong nhận thức về người khác, cá nhân lúc này cần dựa trên việc quan sát tinh tế mọi biểu hiện của con người bao gồm nét mặt, ngôn ngữ, sắc thái giọng nói, cả những biểu hiện phi ngôn ngữ…, và phải nhận ra được sự khác biệt giữa sự biểu lộ những xúc cảm có thực và sự biểu lộ xúc cảm một cách miễn cưỡng, giả tạo.

Giả sử bạn nhìn một người đang mỉm cười khi nghe mình nói, nhưng quan sát kỹ, bạn nhận thấy miệng của anh ta nhếch lên thành một nụ cười, nhưng mắt anh ta thì không. Cùng với điều đó, bạn nghe trong giọng nói của anh ta có sự căng thẳng, không phải cảm giác mãn nguyện hay thoải mái. Rõ ràng anh ta đang làm điệu bộ, đang đóng kịch, anh ta đang không vui vẻ như điều mà anh ta đang cố tỏ ra.

Bước 2: Sử dụng xúc cảm để đẩy mạnh khả năng tư duy – Phát hiện ra một viễn cảnh xúc cảm chung:

Bước tiếp theo trong kế hoạch bốn bước là sử dụng xúc cảm để đẩy mạnh năng lực tư duy. Nó không phải là năng lực mà mọi người nắm bắt một cách dễ dàng, khi một phần lớn chúng ta được dạy một cách sai lầm là xúc cảm cản trở, phá vỡ suy nghĩ. Chúng ta được đào tạo không phải để ra những quyết định dựa vào xúc cảm hoặc không quá thiên về tình cảm. Tuy vậy, những xúc cảm là nền tảng của việc đưa ra những quyết định đúng đắn – đó là kết luận đã được chứng minh đưa ra bởi những công trình nghiên cứu của nhà thần kinh học Antonio Damasio. Thực ra A. Damasio, trên thực tế, thậm chí còn đi sâu hơn, viết rằng “Xúc cảm không phải là xa xỉ. Chúng hoạt động như là những hướng dẫn bên trong, và chúng giúp chúng ta kết nối với những dấu hiệu khác mà những dấu hiệu này cũng có thể hướng dẫn những xúc cảm”.

Từ những xúc cảm được nhận thức một cách chính xác nhờ khả năng quan sát, chúng ta liên hệ tình huống hiện tại với những kinh nghiệm xúc cảm đã có của bản thân để tìm ra tình huống tương tự mình đã trải qua, nhờ vậy chúng ta hiểu rõ những xúc cảm thật đang diễn ra ở bản thân hay người cùng giao tiếp. Khi đó, chúng ta đã tạo ra được một viễn cảnh xúc cảm chung và chúng ta đã tiến một bước để hiểu sâu sắc về chính xúc cảm đang diễn ra và nguyên nhân làm nảy sinh xúc cảm đó, để có thể tìm ra được một quyết định đúng đắn và dễ dàng được chấp nhận.

Như vậy, bên cạnh vai trò của xúc cảm trong việc ra quyết định, năng lực xúc cảm này cho phép chúng ta tạo ra viễn cảnh xúc cảm chung với những người khác, cảm nhận những gì người khác cảm nhận, thấu cảm với người khác và nhìn nhận thế giới thông qua con mắt họ.
Chẳng hạn như sau khi bạn nhận thấy một người đang căng thẳng lại phải cố tỏ ra vui vẻ, bạn phải huy động vốn kinh nghiệm về mặt xúc cảm của bản thân để xem xét mình đã như thế nào trong tình huống tương tự như thế này. Từ đó, bạn có thể hiểu rõ hơn anh ta đang thật sự cảm thấy như thế nào, và như thế bạn đã tìm ra một viễn cảnh xúc cảm chung với anh ta. Việc tìm ra viễn cảnh xúc cảm chung này cho phép bạn và người cùng giao tiếp hiểu nhau hơn và tin tưởng nhau hơn, từ đó cùng nhau sáng suốt tìm ra cách giải quyết vấn đề.

Bước 3: Hiểu rõ nguyên nhân và sự phát triển của xúc cảm – Trả lời câu hỏi “Cái gì sẽ xảy ra nếu…” 

Việc tìm ra viễn cảnh xúc cảm chung chưa cho phép chúng ta tìm ra cách giải quyết vấn đề mà nó còn đòi hỏi chúng ta phải lập luận để tìm ra nguyên nhân thật sự đã dẫn đến việc nảy sinh xúc cảm này. Chúng ta còn cần phải có sự hiểu biết thật sự về lĩnh vực xúc cảm để hiểu: xúc cảm hiện tại ảnh hưởng đến hành vi của cá nhân như thế nào? Nếu cứ để xúc cảm này tự do phát triển trong bối cảnh hiện tại thì nó sẽ phát triển thành xúc cảm nào? và với sự phát triển của xúc cảm mới hình thành thì cá nhân sẽ hành động như thế nào? Trả lời được ba câu hỏi này, chúng ta đã thể hiện bản thân có năng lực lý giải nguyên nhân và sự phát triển của xúc cảm.

Tuy nhiên, đôi khi việc quan sát cũng chưa đem lại đủ thông tin để chúng ta lập luận thì cần kết hợp với việc phỏng vấn, trò chuyện với người cùng giao tiếp.

Giả sử bạn đã cân nhắc, lựa chọn được một cá nhân để giao một nhiệm vụ khá khó khăn. Khi nhận nhiệm vụ được giao anh ta đã biểu lộ sự vui mừng. Nhưng, bạn đã “tinh ý” nhận ra sự vui mừng này là gượng gạo, giả tạo. Bạn đã đặt ra một vài câu hỏi rất chân tình và nhận được câu trả lời cũng rất chân thật. Nhờ vậy, bạn đã hiểu ra nguyên nhân sâu xa của sự vui mừng giả tạo là do anh ta đang lo lắng cho công việc được giao. Thật ra, bạn hoàn toàn hiểu rằng, đôi khi bản thân sự lo lắng tạo nên một sức ép cần thiết để anh ta cố gắng hơn trong công việc. Nhưng nếu những dữ kiện thu được cho bạn biết bản tính của anh ta là hay lo hãi và anh ta đang lo lắng hơi quá mức do sự phức tạp của công việc được giao và thì sự lo lắng này có thể chuyển thành sự căng thẳng, sợ hãi và điều này có thể tạo ra sự bất lợi cho anh ta trong việc hoàn thành nhiệm vụ.

Bước 4: Quản lý xúc cảm để đạt được những kết luận logíc về mặt trí tuệ – Những quyết định chiến lược cơ bản trong xúc cảm và lập luận:

Sẽ khó khăn, nhưng hoàn toàn có thể, để kiểm soát những xúc cảm của chúng ta cũng như của người khác một cách có chủ định. Nắm được quy luật này và nhận thức chính xác về dữ kiện của những xúc cảm trong bối cảnh cụ thể, sử dụng tất cả những dữ kiện đã có của mình để lập luận logíc nhằm ra được một quyết định chính xác về việc kiểm soát sự phát triển của những xúc cảm hiện tại, biến xúc cảm tiêu cực thành xúc cảm tích cực để cá nhân có được hành vi hiệu quả.

Trong cuộc sống, có thể có nhiều nguyên nhân khiến chúng ta cảm thấy không thoải mái – như việc ùn tắc giao thông trong đi lại hàng ngày, nhận được một lời phê phán về kết quả làm việc, hoặc cãi nhau với người khác khi rời khỏi nhà… Nếu những sự cố hàng ngày đó thường gây ra sự thay đổi trong tâm trạng, thì bằng việc xây dựng những hành vi tỉnh táo, chúng ta sẽ đem lại cho mình và người khác cảm giác cân bằng một cách có hiệu quả hơn.

Nếu bạn nhận ra sự lo lắng của một người khi anh ta được lựa chọn để giao một nhiệm vụ khó khăn thì bạn cần tìm ra cách để trấn an anh ta, để biến đổi xúc cảm của anh ta từ băn khoăn và lo lắng sang tin tưởng. Nếu bạn không kiểm soát được xúc cảm này, không có quyết định kịp thời để giải quyết nó thì sự lo lắng nhè nhẹ hay sự không thoải mái có thể chuyển thành sự sợ hãi và ảnh hưởng tiêu cực đến hành động của anh ta. Bạn có thể giải quyết vấn đề này bằng cách khẳng định sự tin tưởng của bạn vào phẩm chất và năng lực của anh ta trong việc hoàn thành nhiệm vụ này. Sau đó, bạn cần tiếp tục tìm cách để cùng anh ta giải quyết những khó khăn trong nhiệm vụ được giao của anh ta. Làm như vậy là bạn đã kiểm soát tình trạng này một cách có xúc cảm.

Bốn năng lực này được sử dụng như một hình thức phương pháp luận giải quyết vấn đề, mà một người trước hết nhận thức được một xúc cảm; cho phép xúc cảm này định hướng và ảnh hưởng trực tiếp đến tư duy; cố gắng để hiểu nguyên nhân của xúc cảm đó và viễn cảnh “cái gì sẽ xảy ra nếu cứ để xúc cảm này tự do phát triển”/“what – if”; cuối cùng, quản lý để luôn sẵn có những thông tin chứa đựng trong những xúc cảm này và kết hợp chúng thành một quyết định chiến lược.

Quá trình rèn luyện EI theo qui trình bốn bước trên đòi hỏi mỗi cá nhân phải xác định được mục tiêu rèn luyện, tích cực phát triển vốn kinh nghiệm xúc cảm cá nhân, và kiên trì thực hành trong các tình huốn tương tác đa dạng với người khác của cuộc sống hàng ngày. Khi tin tưởng và thực hiện qui trình phát triển EI trên đây là bạn đã tự tạo ra và tự nâng cao EI của bản thân mình. 
(Hết)
(Bài đăng trên Tạp chí Tâm lý học)

Tài liệu tham khảo
1. Joseph Ciarrochi, Joseph P. Forgas, John D. Mayer (EDS). Emotional Interlligence in Everyday Life (2nd Edition).2006. Psychology Press, New York. 
2. Lin V. Wesley (Editor). Interlligence New Research.2006. Nova Science Publishers, Inc. New York. 
3. Ralf Schulze, Richard D. Roberts (EDS). Emotional Interlligence. An International Handbook.2005. Hogrefe & Huber Publishers. Germany.
 

Não kiểm soát cảm xúc như thế nào?

Hệ thống limbic là một nhóm các cấu trúc liên kết nằm sâu trong não bộ, có nhiệm vụ kiểm soát cảm xúc và hành vi của con người. Các nhà khoa học vẫn chưa thống nhất về danh sách đầy đủ các cơ quan trong hệ thống limbic. Cấu trúc thường được chấp nhận là một phần của hệ thống gồm có:

Vùng dưới đồi: Ngoài việc kiểm soát cảm xúc, vùng dưới đồi còn liên quan đến các phản ứng tình dục, giải phóng hormone và điều chỉnh nhiệt độ cơ thể.

Hồi hải mã: Hồi hải mã giúp lưu giữ và lấy lại ký ức. Nó cũng giúp con người hình dung về các kích thước không gian.

Hạch hạnh nhân: Các hạch hạnh nhân giúp cơ thể tạo ra một loạt các phản ứng khác nhau với các sự vật, hiện tượng trong môi trường sống, đặc biệt là các tình huống gây kích thích cảm xúc mãnh liệt. Nó có vai trò quan trọng trong việc kiểm soát nỗi sợ và tức giận.

Thể chai: Thể chai gồm có 2 cấu trúc là hồi đai (cingulate gyrus) và hồi cận hải mã (parahippocampal gyrus). Chúng cùng nhau tác động đến tâm trạng, động lực thúc đẩy và khả năng phán đoán của con người.

2. Phần nào của não kiểm soát nỗi sợ hãi?

Từ quan điểm sinh học, sợ hãi là một cảm xúc giúp cơ thể tạo ra phản ứng trước các tình huống “có thể” không an toàn hoặc cảnh báo mối nguy hiểm.

Phản ứng này được tạo ra bởi hạch hạnh nhân, tiếp theo là vùng dưới đồi. Đây là lý do tại sao một số người bị tổn thương hạch hạnh nhân thỉnh thoảng phản ứng không thích hợp với các tình huống nguy hiểm.

Khi hạch hạnh nhân kích thích vùng dưới đồi, nó tạo ra phản ứng “fight or flight”. Đây là một phản ứng sinh lý xảy ra trong khi cơ thể cảm nhận về một sự kiện đe dọa, tấn công, hoặc gây nguy hiểm đến sự sống. Sau đó, vùng dưới đồi gửi tín hiệu đến tuyến thượng thận để sản xuất các loại hormone như adrenalinecortisol.

Khi các hormone này xâm nhập vào máu, bạn có thể nhận thấy một số thay đổi về thể chất, chẳng hạn như tăng:

  • Nhịp tim
  • Nhịp thở
  • Đường huyết
  • Mồ hôi

Ngoài kích hoạt phản ứng “fight or flight”, hạch hạnh nhân còn đóng vai trò trong việc lặp lại các phản ứng sợ hãi ở các tình huống nhất định xảy ra trong cuộc sống.

QUÁ TRÌNH CHUYỂN HÓA CẢM XÚC

  • TS.ĐĐ. Thích Nguyên Pháp

Cảm xúc là một trong những biểu hiện sinh động của đời sống tâm lý con người,là bản thể của hai mặt đau khổ và hạnh phúc. Vì vậy, cả Tâm lý học lẫn Thiền định Phật giáo (trong phạm vi bài viết chỉ giới hạn ở Sơ thiền) đều rất quan tâm đến cảm xúc. Vậy quá trình chuyển hóa cảm xúc trong đời sống tâm lý con người là gì? Lý thuyết Tâm lý học và Thiền định Phật giáo chống trái nhau hay bổ sung nhau? Chúng ta hãy khảo sát một cách ngắn gọn trong khuôn khổ một bài tham luận.

TỪ GÓC ĐỘ TÂM LÝ HỌC

Để làm rõ quá trình chuyển hóa cảm xúc từ góc độ Tâm lý học, chúng ta cần phải nói đến hai khái niệm cảm xúc và trí tuệ cảm xúc.

    Cảm xúc

Cảm xúc (xúc cảm) và tình cảm là hiện tượng tâm lý phản ánh bằng những rung động trải nghiệm trong bản thân mỗi chủ thể. Rung động là quá trình hoặc trạng thái tâm lý có liên quan đến sở thích, tình thương, tình yêu, sự gắn bó của chủ thể đối với đối tượng. Cảm xúc là những rung động đối với từng sự vật, hiện tượng riêng lẻ có liên quan đến nhu cầu, động cơ của chủ thể trong những tình huống nhất định. Cảm xúc là một trạng thái phức hợp, là kết quả của sự thay đổi về sinh lý, tâm lý ảnh hưởng đến suy nghĩ và hành vi của

con người. Cảm xúc của con người liên quan đến rất nhiều hiện tượng tâm lý, như khí chất, nhân cách, tâm trạng, động cơ… Các nhà Tâm lý học lọc ra sáu cảm xúc cơ bản: Sợ, giận, ghê, ngạc nhiên, thích và vui (Izard, 1977, 1990). Những cảm xúc nền tảng này xuất hiện ở con người một cách độc lập hoặc cùng xuất hiện và kết hợp với nhau tạo nên những cảm xúc mới, chẳng hạn: Sợ và ngạc nhiên tạo nên kinh sợ, giận và ghê tởm tạo nên khinh thường, thích thú và vui vẻ tạo nên lạc quan.

        Một số học thuyết về cảm xúc

Bản chất cảm xúc của con người không chỉ thuần túy là tâm lý mà còn phụ thuộc vào sinh lý thần kinh. Vì vậy, khi khảo sát bản chất của nó, người ta thường bàn về các khía cạnh sinh lý của cảm xúc.
Thuyết tiến hóa: Nhà tự nhiên học Charles Darwin cho rằng cảm xúc là khả năng thích ứng cho phép con người và động vật có thể sống sót và sinh sản.
Thuyết của James-Lange: Nhà tâm lý học William James và nhà sinh lý Carl Lange cho rằng cảm xúc diễn ra là kết quả của phản ứng sinh lý đối với các sự kiện. Khi cá nhân nhận được một kích thích từ môi trường sẽ dẫn đến một phản ứng sinh lý. Phản ứng cảm xúc của một cá nhân tùy thuộc vào cách giải thích phản ứng sinh lý của người ấy.
Thuyết Cannon-Bard: Chúng ta cảm nhận được cảm xúc thông qua các phản ứng sinh lý như toát mồ hôi, run rẩy hay co cơ đồng thời cùng một lúc. Cụ thể, khi đồi thị gửi tín hiệu đến bộ não để phản ứng trả lời kích thích sẽ sinh ra phản ứng vật lý. Cùng thời điểm đó, bộ não cũng nhận được tín hiệu khởi phát trải nghiệm về cảm xúc. Những trải nghiệm vật lý và tâm lý của cảm xúc xảy ra đồng thời, cái này không phải là nguyên nhân cho cái kia.
Thuyết của Schachter-Singer: Thuyết này còn gọi là thuyết hai yếu tố của cảm xúc, lý thuyết nhận thức về cảm xúc. Lý thuyết này khẳng định kích thích vật lý diễn ra trước tiên, sau đó cá nhân xác định lý do cho kích thích này để trải nghiệm và gắn nhãn nó như một cảm

xúc. Giống với lý thuyết của James-Lange, lý thuyết của Schachter- Singer cũng cho rằng, con người suy luận về cảm xúc dựa trên các phản ứng sinh lý. Điểm mới là tình huống và sự giải thích nhận thức mà con người sử dụng để dán nhãn lên cảm xúc đó. Giống với lý thuyết của Cannon-Bard, lý thuyết của Schachter-Singer cũng cho rằng, các phản ứng vật lý giống nhau có thể tạo ra nhiều cảm xúc.
Thuyết thẩm định nhận thức: Theo thuyết này, suy nghĩ diễn ra trước cảm xúc. Chuỗi sự kiện diễn ra theo trình tự: Đầu tiên là kích thích, sau đó là suy nghĩ dẫn đến đồng thời cùng lúc phản ứng vật lý và cảm xúc. Ví dụ, khi bạn đang đối diện với con thú dữ, ngay lập tức bạn nghĩ rằng bạn đang trong tình huống rất nguy hiểm. Suy nghĩ này dẫn đến cảm xúc sợ hãi và phản ứng vật lý là chiến đấu hay bỏ chạy.
Thuyết cảm xúc phản hồi trên gương mặt: Lý thuyết này cho rằng sự biểu cảm trên gương mặt liên quan đến biểu lộ cảm xúc. Theo Charles Darwin và William James, nhiều lúc phản ứng vật lý có ảnh hưởng trực tiếp đến cảm xúc, không đơn thuần chỉ là kết quả của cảm xúc. Ví dụ, những người bị ép buộc phải nở nụ cười vui vẻ trong các buổi giao tiếp xã hội sẽ có khoảng thời gian tốt hơn những người cau mày hay mang bộ mặt không cảm xúc.1

        Biểu hiện cảm xúc

Vậy làm cách nào để chúng ta nhận biết cảm xúc? Chúng ta sẽ dựa vào các biểu hiện bên ngoài và bên trong của cảm xúc. Biểu hiện bên ngoài gồm có: Nét mặt, ánh mắt và điệu bộ – cử chỉ. Biểu hiện bên trong gồm có: Rung cảm, xúc động và tâm trạng.

            Các biểu hiện bên ngoài

Các biểu hiện bên ngoài của cảm xúc là tín hiệu phi ngôn ngữ: Nét mặt, ánh mắt và ngôn ngữ cơ thể (hành vi, cử chỉ, điệu bộ). Chúng giúp chúng ta nhận ra cảm xúc của người khác và truyền đạt tình cảm mình đến người khác.

  1. 7, tr.390.

Nét mặt: Nét mặt là sự chỉ dẫn đến cảm xúc người khác, nhà hùng biện La Mã Cicero nói: “Khuôn mặt là hình ảnh của linh hồn”. Cơ mặt của con người có thể diễn tả được hơn 7.000 biểu cảm khác nhau. Những thể hiện cảm xúc qua nét mặt thường mang tính chất bẩm sinh, tuy nhiên, có thể có sự khác biệt nhỏ do ảnh hưởng của yếu tố văn hóa. Ngoài ra, chính nét mặt, cơ thể con người sẽ tác động ngược trở lại các trải nghiệm xúc cảm, tình cảm.
Ánh mắt: Đôi mắt là cửa sổ tâm hồn (Stevenson, 1967). Chúng ta thường biết nhiều về tình cảm của người khác thông qua đôi mắt. Ví dụ, chúng ta hiểu một cái nhìn chăm chú từ người khác là dấu hiệu của yêu thích hoặc thân thiện, ngược lại, né tránh ánh mắt của chúng ta thì có thể là không thích, không thân thiện hoặc đơn giản là xấu hổ; khích tướng, nhìn trìu mến…
Điệu bộ – cử chỉ: Ngôn ngữ cơ thể là sự thay đổi dáng điệu hoặc cử động bàn tay, cánh tay, chân để biểu lộ cảm xúc khi di chuyển từ sự kiện này sang sự kiện khác. Ví dụ: khi vui mừng có thể nhảy cẫng lên, cười nhiều, khi buồn nét mặt chảy xệ, vai xệ xuống, nói chậm lại; khi tức giận thì mím chặt môi, tay co lại; hoặc như bồn chồn, lúng túng hay vuốt tóc thường phản ánh hưng phấn mạnh hay giận dữ. Điệu bộ – cử chỉ cung cấp nhiều thông tin cụ thể về cảm xúc người khác, truyền tải ý nghĩa cụ thể trong văn hóa – giáo dục, bộc lộ các trạng thái sinh lý như tuổi tác, thể chất, chân dung nhân cách.
Tóm lại, tín hiệu phi ngôn ngữ trong dáng điệu hay điệu bộ cơ thể của một cá nhân có thể bộc lộ mối quan hệ về chân dung nhân cách hoặc cảm xúc hiện thời.

            Các biểu hiện bên trong

Khi quan sát quá trình chuyển hóa cảm xúc, người ta thường chú ý đến các biểu hiện bên trong. Biểu hiện này, ở người, liên quan đến nhu cầu vật chất, tinh thần, được xây dựng lại và chịu ảnh hưởng của kinh nghiệm xã hội. Do đó, cách thể hiện cảm xúc được xã hội hóa và mang dấu ấn văn hóa dân tộc, khác hẳn với động vật. Đơn cử như

tức giận chẳng hạn:Bàn tay nắm lại, hơi thở mạnh, nhịp thở ngắn, tim đập nhanh, môi mím chặt, mắt đỏ vằn, mặt đỏ, răng nhe ra, sẵn sàng tấn công để phòng vệ (không phải ai cũng đều nhe răng, có thể họ chỉ mím chặt môi và bỏ đi). Tuy nhiên, con người có khả năng kiềm chế để thể hiện sự chuẩn mực xã hội như: Cố gắng “dằn lòng”, cố gắng mỉm cười tiếp khách…
Các biểu hiện bên trong này có khi được gọi là xúc cảm. Xúc cảm là thể nghiệm trực tiếp của một tình cảm nào đó. Đặc điểm chung của xúc cảm là cường độ mạnh, rõ rệt, xảy ra nhanh chóng và do những sự vật hiện tượng cụ thể gây nên. Do đó, xúc cảm mang tính khái quát hơn so với rung cảm và đồng thời cũng được chủ thể ý thức rõ nét hơn. Chẳng hạn: Niềm hạnh phúc khi con cái thành đạt, tiếc nuối khi món đồ yêu thích bị mất đi hoặc hư hỏng. Tùy theo cường độ, tính ổn định và mức độ thức mà xúc cảm được chia thành ba loại là rung cảm, xúc động và tâm trạng.
Rung cảm là những xúc cảm có cường độ rất yếu, chỉ tồn tại thoáng qua cùng với quá trình cảm giác nào đó (rung cảm còn gọi là màu sắc xúc cảm của cảm giác). Kích thích gây ra rung cảm là từng thuộc tính riêng lẻ của sự vật, hiện tượng, chẳng hạn: Việc thưởng thức một bài thơ, văn, nhạc, bức tranh tạo nên những rung cảm nhẹ nhàng, hồi tưởng hay mơ mộng. Tuy nhiên, rung cảm có tính chất rất cụ thể, thường không được chủ thể ý thức rõ rệt và đầy đủ.
Xúc động là những xúc cảm có cường độ rất mạnh, thời gian tồn tại ngắn, có thể rơi vào trạng thái mất kiểm soát ý thức. Ví dụ: Một bất ngờ quá lớn có thể gây nên cú sốc về mặt tâm lý khiến cơ thể bị choáng hoặc ngất đi, cơn giận dữ khiến chủ thể mất kiềm chế có thể gây tổn thương đến bản thân và người khác. Chính vì mất kiểm soát ý thức dẫn tới mất kiểm soát hành vi, bất chấp hậu quả cho nên xúc động rất nguy hiểm cho chủ thể và người xung quanh. Do đó, việc học cách kiểm soát những cơn xúc động là rất cần thiết.
Tâm trạng là những xúc cảm có cường độ hơi yếu nhưng tồn tại dai dẳng có khi hàng tuần, hàng tháng thậm chí hàng năm. Chủ thể không ý thức rõ về nguyên nhân hay nguồn kích thích cụ thể của

tâm trạng hiện tại. Tâm trạng như một trạng thái tâm lý, cùng tồn tại, bao trùm lên toàn bộ các rung động của chủ thể và ảnh hưởng đến các hiện tượng tâm lý khác cũng như hoạt động của chủ thể ấy. Ví dụ: Tâm trạng căng thẳng, không tập trung khiến cho những quyết định sai lầm, hoặc tâm trạng lâng lâng sung sướng khiến chỉ nhìn thấy những mặt tích cực và tính phê phán sẽ giảm xuống, lo lắng bất an sẽ tạo nên xúc cảm nghi ngờ thù địch…
1.2. Trí tuệ cảm xúc
Thông thường, chúng ta thường đối lập lý trí với cảm xúc (xúc cảm), cho rằng chỉ có lý trí mới thuộc về trí tuệ, còn cảm xúc thì không. Nhưng Tâm lý học hiện đại cho rằng IQ chỉ là vùng hẹp của năng lực ngôn ngữ và toán học2. Theo đó, có hai loại trí tuệ là trí tuệ lý trí và trí tuệ cảm xúc. Trên thực tế, nếu không có trí tuệ cảm xúc, trí tuệ lý trí không thể hoạt động sáng suốt.3 Những phản ứng cảm xúc nếu biết chuyển hóa thì cũng được xem là trí tuệ. Vấn đề ở đây không phải là sự giải thoát khỏi các cảm xúc và thay thế chúng bằng lý trí, mà là sự cân bằng tốt đẹp giữa hai mặt4. Trước đây, chúng ta thường quan niệm rằng lý trí cần phải thoát khỏi các cảm xúc, nhưng theo quan niệm hiện đại là sự hòa hợp giữa chúng với nhau. Nói cách khác, kiểm soát, định hướng cảm xúc theo hướng tích cực thì được gọi là trí tuệ cảm xúc. Như vậy, từ góc độ Tâm lý học, quá trình chuyển hóa cảm xúc là quá trình hình thành trí tuệ cảm xúc.
Nhìn chung, trí tuệ cảm xúc là khả năng giám sát các cảm giác và cảm xúc của bản thân và người khác; khả năng phân biệt và sử dụng những thông tin nhằm định hướng suy nghĩ, hành động của mình. Từ góc độ khác, trí tuệ cảm xúc là khả năng thấu hiểu cảm xúc bản thân và người khác dẫn tới định hướng hành động phù hợp.

IQ revolved around a narrow band of linguistic and math skills. [1, tr.37]
Two different kinds of intelligence: rational and emotional […]. Indeed, intellect can- not work at its best without emotional intelligence. [1, tr.29]
It is not that we want to do away with emotion and put reason in its place, as Erasmus had it, but instead find the intelligent balance of the two. [1, tr.30]




        Biểu hiện của trí tuệ cảm xúc

Phân tích khái niệm trên, chúng ta có thể thấy trí tuệ cảm xúc có năm biểu hiện sau đây:

Ý thức

Ý thức các diễn biến cảm xúc của bản thân. So với ba biểu hiện bên trong như đã nói trên, việc ý thức hóa này chú trọng đến tâm trạng hơn. Đây là cơ sở nhất của trí tuệ cảm xúc làm nền tảng cho năng lực tự giải thoát khỏi tâm trạng xấu, cụ thể là stress. Cá nhân nhanh chóng nhận ra các dấu hiệu, chấp nhận mình đang trong tâm trạng tiêu cực cần được chuyển hóa thành tích cực. Khi tâm trạng được chuyển hóa thành tích cực, cá nhân sẽ nhanh chóng hòa nhập với cuộc sống xung quanh.

Kiểm soát

Đó là năng lực làm chủ cảm xúc, làm cho tình cảm của mình thích nghi với hoàn cảnh. So với ba biểu hiện bên trong như đã nói trên, sự kiểm soát ở đây chú trọng đến xúc động hơn. Những người có khả năng kiểm soát bản thân thường không để mình nổi giận hoặc nảy sinh lòng ghen tỵ thái quá, cũng không ra những quyết định ngẫu hứng, bất cẩn, luôn suy nghĩ trước khi hành động.

Chế ngự

Những nhu cầu mãnh liệt sinh ra các cảm xúc hay ham muốn nhất thời. Các nhà Tâm lý học đặt ra vấn đề phần thưởng ít hay nhiều đối với một cá nhân: Muốn được ngay tức khắc thì được thưởng ít, nếu có thể chờ đợi thì được thưởng nhiều. Qua đó để thăm dò cá nhân có khả năng chế ngự hay không. Chế ngự là sự kiềm chế các ham muốn để hoàn thiện bản thân. Tại sao lại hoàn thiện? Vì theo họ, cá nhân không có năng lực chế ngự cảm xúc thì ít trí tuệ, cho nên không thể hoàn thiện bản thân.

Đồng cảm

Nói một cách đơn giản, đồng cảm là sự nhận biết các cảm xúc của người khác. Sự đồng cảm là yếu tố căn bản của trí tuệ quan hệ

cá nhân. Tình trạng không cảm nhận được cảm xúc của người khác là thiếu sót nghiêm trọng về trí tuệ cảm xúc và là khiếm khuyết bi thảm về cái được xem là “tính người”5. Trong các mối quan hệ của con người, ân cần, trìu mến bắt nguồn từ sự hòa hợp với người khác và khả năng đồng cảm. Đồng cảm là hiểu được ước muốn, nhu cầu và quan điểm của những người sống quanh bạn. Người biết đồng cảm rất giỏi nắm bắt cảm xúc của người khác. Nhờ vậy, họ luôn biết cách lắng nghe người khác và thiết lập quan hệ với mọi người. Họ không bao giờ nhìn nhận vấn đề một cách rập khuôn hay phán đoán tình huống quá vội vàng. Họ luôn sống chân thành và cởi mở, biết khắc phục thói vị kỷ (lấy cái tôi làm trung tâm),các xung lực là điều có lợi về mặt xã hội: Đó là năng lực đồng cảm, thật sự chú tâm tới người khác, tự đặt mình vào quan điểm của họ. Đồng cảm là nguồn gốc của yêu thương và vị tha.
Đồng cảm là sự chuyển hóa cả ba biểu hiện rung cảm, xúc động và tâm trạng của chủ thể. Đó gần như là việc chủ thể phải đặt mình vào vị trí khách thể, tự tháo gỡ những thành kiến, phê phán khách thể, biến cảm xúc của mình giống như khách thể trên nền tảng nhân văn (tính người).

Tự chủ

Tự chủ ở đây là sự chủ động cả ba biểu hiện bên trong, là kỹ năng điều khiển các cảm xúc của mình với người khác, biết cách làm cho mình được lòng mọi người, biết lãnh đạo và hướng dẫn có hiệu quả những liên hệ của mình với người khác, mở rộng mối quan hệ. Người giỏi giao tiếp – một đặc điểm khác của trí tuệ cảm xúc – thường có khả năng làm việc nhóm tốt, họ quan tâm đến việc giúp người khác phát triển, làm việc hiệu quả hơn là thành công của chính mình. Họ biết cách tranh luận hiệu quả, là bậc thầy trong việc thiết lập, duy trì quan hệ xã hội.
Khái niệm về trí tuệ cảm xúc không chỉ dừng lại ở rung cảm, xúc động, tâm trạng mà còn được mở rộng đến tính cách và đạo đức. Nền

A tragic failing in what it means to be human. [1, tr.74]

tảng của tính cách là năng lực tự thúc đẩy và tự cai quản6. Năng lực trì hoãn sự thỏa mãn ham muốn, kiểm soát và điều khiển nhu cầu hành động là một dấu hiệu của trí tuệ cảm xúc, tức ý chí. “Chúng ta phải là những người chủ của chính bản thân của những thèm muốn, đam mê thì mới có thể đúng đắn đối với người khác”. Như Thomas Lickona khẳng định về sự giáo dục tính cách: “Để được như thế, ý chí phải đặt các cảm xúc dưới sự kiểm soát của lý trí”.
Trí tuệ cảm xúc có tác dụng tạo ra hy vọng và lạc quan. Về mặt trí tuệ cảm xúc, hy vọng có nghĩa là không lùi bước trước lo lắng, không buông tay hoặc chán nản khi đương đầu với khó khăn hay thất vọng. Lạc quan là sự bước vào trạng thái sảng khoái, hưng phấn, đó là tuyệt đỉnh của trí tuệ cảm xúc.

        Vai trò của trí tuệ cảm xúc đối với đời sống con người

Cảm xúc có vai trò thúc đẩy hoặc kìm hãm hoạt động theo định hướng của nó. Sự định hướng ở đây có nghĩa là sự thể hiện cảm xúc, là yếu tố bên trong của hành động trí tuệ, là tâm thế theo suốt quá trình hành động và chi phối các quyết định hành động.

Vai trò thứ nhất của trí tuệ cảm xúc là làm thay đổi số phận của chủ thể theo hướng tích cực. Chủ thể hiểu rõ cảm xúc của mình nên không để chúng chế ngự, biết đâu là điểm mạnh, điểm yếu để từ đó phát huy hoặc khắc phục. Chúng ta thường tự mặc định IQ mới là yếu tố quyết định số phận: Học giỏi, thông minh... Nhưng các nhà Tâm lý học Mỹ đã khảo sát các sinh viên đạt kết quả tốt nhất trong các kỳ thi lại không hoàn toàn là những người hạnh phúc, thậm chí, theo thời gian, họ xoay sở cuộc sống vất vả hơn những người bạn mà trước đây chỉ ở tầm trung bình. Bởi vì, những người bạn trung bình biết hình thành trí tuệ cảm xúc. Nền giáo dục, nền văn hóa chú trọng đến các năng lực trừu tượng mà bỏ quên trí tuệ cảm xúc, tức là bỏ quên những nét tính cách có ảnh hưởng rất lớn đến số phận con người. Trí tuệ cảm xúc là một siêu năng lực7 quyết định việc chúng



To motivate and guide oneself [1, tr.201]
Meta-ability.

ta khai thác thế mạnh của mình. Đó là năng lực hiểu biết, nắm bắt, làm chủ tình cảm của bản thân và người khác để hòa hợp, thì sẽ có lợi thế trong tất cả các lĩnh vực. Nếu không, sẽ chịu những xung đột nội tâm và mất năng lực tập trung. Có thể nói, trí tuệ cảm xúc mang tính nhạy cảm xã hội8.

Vai trò thứ hai của trí tuệ cảm xúc là xây dựng tốt các mối quan hệ xã hội: gia đình, công việc, bạn bè… thông qua quá trình đồng cảm, tức hiểu cảm xúc của người khác.

Tình yêu – Hôn nhân – Gia đình: Trong các lĩnh vực này, cá nhân có hạnh phúc hay không đều tùy thuộc vào trí tuệ cảm xúc. Để dẫn tới ly hôn chính là hậu quả của việc thiếu sót về trí tuệ cảm xúc. Khi một cặp vợ chồng tự nhốt mình trong vòng luẩn quẩn của sự phê phán và khinh miệt nhau, của những ý nghĩ độc hại và cảm xúc tiêu cực, thì mọi sự tự chủ, mọi sự đồng cảm và năng lực xoa dịu bản thân người khác bị mất đi hoàn toàn, mỗi bên đều giữ thế tự vệ và tránh né, khiến cho ý thức về những cảm xúc bị tan rã. Do vậy, trong các lĩnh vực này, cá nhân cần phải nuôi dưỡng và phát triển trí tuệ cảm xúc để duy trì hạnh phúc.
Công việc – Nhóm: Trên lĩnh vực này, năng lực trí tuệ cảm xúc là hòa hợp với cảm xúc của người khác, có khả năng giải quyết bất đồng trước khi chúng trở nên nghiêm trọng và khả năng làm việc trong trạng thái thay đổi. Lãnh đạo không phải là thống trị mà là biết thuyết phục người khác làm việc để đạt tới mục đích chung. Trí tuệ cảm xúc không chỉ làm tan biến định kiến giữa các thành viên trong nhóm mà còn đưa ra phán quyết vào thời điểm thích hợp. Yếu tố quan trọng của trí tuệ tập thể không phải trung bình cộng của IQ cá nhân mà phụ thuộc vào trí tuệ cảm xúc. Điểm then chốt của IQ tập thể cao là sự hòa hợp xã hội. Chính sự hòa hợp ấy sẽ giúp một nhóm làm việc hiệu quả, thành công.
Trong các lĩnh vực y học và giáo dục cũng cần vận dụng trí tuệ cảm xúc để điều trị bệnh nhân hay giáo dục trí tuệ cảm xúc cho trẻ

Social perceptiveness.

con. Nhờ trí tuệ cảm xúc, họ cảm thấy thoải mái, dễ làm chủ cảm xúc, tự trấn tĩnh trước khi gặp điều bất như ý.

        Các biện pháp nâng cao trí tuệ cảm xúc
            Lắng nghe và tôn trọng cảm xúc của mình: Quan niệm thông thường cho rằng, cảm xúc thường cản trở suy nghĩ và hành động lý trí, vì vậy chúng ta nên biết cách kìm nén. Tuy nhiên, trí tuệ cảm xúc nghĩa là chấp nhận cảm xúc và giải tỏa nó theo những cách tích cực nhất có thể. Ví dụ: Câu nói “Tôi không buồn” sẽ không giúp bạn giải tỏa được nỗi buồn nhưng đi dạo hoặc tâm sự với ai đó sẽ mang lại cảm xúc tốt hơn cho bạn.
            Mở rộng các mối quan hệ: Giao tiếp khơi mào và nuôi dưỡng các mối quan hệ, Tạo ra thói quen tốt cho các mối quan hệ: Ăn tối, du lịch cùng nhau, tổ chức sinh nhật riêng với những người trong gia đình, mua tặng những món quà bất ngờ, gọi điện thăm hỏi, cùng nhau đi ăn sáng...

Tóm lại, từ góc độ Tâm lý học, quá trình chuyển hóa cảm xúc thực chất là quá trình hình thành trí tuệ cảm xúc, tức hình thành các năng lực ý thức, kiểm soát, chế ngự, đồng cảm và tự chủ. Trong quá trình thực hành thiền định, thiền sinh hoàn toàn có thể tiếp thu và vận dụng lý thuyết chuyển hóa cảm xúc của Tâm lý học. Tuy nhiên, thiền sinh cũng cần thấy thêm rằng, quá trình chuyển hóa này chưa đặt nặng khía cạnh tư duy đạo đức (thiện tầm – bất thiện tầm) và nhất là chưa quan tâm đến nền tảng đình chỉ tâm trí như thiền định nói chung.

TỪ GÓC ĐỘ SƠ THIỀN

Trong Sơ thiền, có năm thiền chi: tầm, tứ, hỷ, lạc và nhất tâm (nhưng kinh, luận ít bàn tới nhất tâm vì thiền chỉ này phải có trong bất kỳ cấp độ thiền định nào). Đối với Sơ thiền, các biểu hiện bên trong của cảm xúc gồm có cảm xúc tiêu cực và cảm xúc tích cực. Cảm xúc tiêu cực gồm có ưu và khổ do bất thiện tầm sinh ra. Cảm xúc tích cực gồm có hỷ và lạc do thiện tầm mà sinh ra. Cảm xúc giữa Tâm lý học và Sơ thiền có phần giống nhau và khác nhau. Theo Tâm

lý học, cảm xúc của con người liên quan đến các khía cạnh như: Nhu cầu, động cơ hoặc chịu ảnh hưởng từ kinh nghiệm văn hóa – xã hội. Sơ thiền cũng thừa nhận điều đó nhưng bổ sung thêm khía cạnh đạo đức: Với tâm lý xấu ác sẽ dẫn tới cảm xúc tiêu cực và với tâm lý hiền thiện sẽ dẫn tới cảm xúc tích cực thông qua hoạt động tầm – tứ. Ở đây, cũng cần phải nói thêm, hầu hết các thiền sinh đều dùng phương pháp quán hơi thở đình chỉ tâm trí để bắt đầu đi vào thiền định nói chung, kể cả Sơ thiền. Vì vậy, việc đình chỉ tâm trí là một phần đương nhiên của Sơ thiền.

    Tầm - tứ và cảm xúc

Kinh, luận định nghĩa và chú giải: Tầm là sự bám dính của tâm, tức gắn tâm trên đối tượng9, ví như một người leo được lên cao là nhờ một người khác giúp đỡ. Cũng vậy, tâm “leo lên” được trên đối tượng là nhờ tầm giúp đỡ10 (nhắc lại lần nữa, tầm tuy cũng là tâm nhưng được “tách” biệt ra để quan sát trong thiền định, tuy nhiên, điều thú vị nhất trong câu này là đối tượng cũng thuộc về tâm). Nhiệm vụ chung của tầm là hướng tâm và tâm sở đến đối tượng. Nhưng trong Sơ thiền, nhiệm vụ này ở một cường độ mạnh hơn là “đẩy”(thruts) các tâm sở vào đối tượng. Chính vì vậy, Thanh tịnh đạo luận mới nói rằng trong thiền, nhiệm vụ của tầm là đánh mạnh và đập mạnh (strike at and thresh), vì nhờ nó mà hành giả nhận thức được đối tượng tâm lý của mình trong thời khóa thiền định.
Chữ tứ luôn luôn xuất hiện sau chữ tầm, đó là hai tiến trình khác biệt của tâm lý trong Sơ thiền, mà đúng hơn, tứ chỉ là một giai đoạn phát triển thêm của tầm. Vi Diệu Pháp và các bản chú giải đã giải thích như thế này: Tứ là tư duy được kéo dài ra hay tư duy được duy trì liên tục. Nhiệm vụ của tứ là ép (pressure on) tâm sở liên tục để neo chắc ngay trên đối tượng (đối tượng ở đây gồm cả tâm bất thiện lẫn tâm thiện như tham-sân-si, vô tham, vô sân, vô si, năm triền cái…). Tứ vừa chuyển động vừa neo chắc và cũng vừa quan sát đối tượng,

Vitakka is defined as “application of mind”, which the Atthasalini glosses as meaning that vitakka applies the mind to the object [2, tr.50].
The mind ascends the object in dependence on vitakka [2, tr.50].

tứ làm cho tâm có thể xem xét, khảo sát, nghiên cứu kỹ những đặc tính của đối tượng.11 Sơ thiền xảy đến cùng một lúc với tầm và tứ được gọi là “câu hữu với tầm tứ” như một cây có hoa và trái12. Trong sự liên hợp này, tầm – tứ là hai yếu tố thiết yếu cho sự thành tựu và ổn định của Sơ thiền13.
Tầm thường gắn với tứ. Khi tâm và tâm sở bám dính, gắn chặt vào hay tư duy về đối tượng thì thành tầm. Tự thân tầm không thiện cũng không bất thiện14. Tầm gồm có bất thiện tầm và thiện tầm. Khi kết hợp với tâm bất thiện như tham-sân-si hoặc năm triền cái, tầm trở thành bất thiện tầm gồm dục tầm, sân tầm và hại tầm. Bất thiện tầm khi được chuyển hóa thì trở thành thiện tầm, gồm: Viễn ly tầm, vô sân tầm và bất hại tầm. Quá trình chuyển từ bất thiện tầm thành thiện tầm là hoạt động chung của tầm-tứ.

        Bất thiện tầm là nguồn gốc của cảm xúc tiêu cực

Đối với vấn đề khảo sát cảm xúc tiêu cực, lý thuyết Sơ thiền tuy không phân ra ưu và khổ một cách cụ thể, mà thay vào đó, xem sự hiện diện của ba bất thiện tầm đương nhiên cũng hiện hữu ưu và khổ bên trong.

            Dục tầm

Dục tầm là hiện tượng tinh thần bị chi phối bởi những tâm lý về dục ở mặt ý thức lẫn vô thức (thuộc Phân tâm học). Có người bản tánh tham dục rất mạnh mẽ, luôn luôn ở trong trạng thái đau khổ, ưu phiền, làm cản trở quá trình đoạn tận các lậu hoặc để phát sinh thắng trí. Sức mạnh của tham dục có thể khiến con người vượt qua

Sustained thinking (vicàrana) is sustained thought (vicàra); continued sustainment (anusancarana) is what is meant. It has the characteristic of continued pressure on (occupation with) the object. Its function is to keep conascent [mental] states [occupied] with that. […] it enables the mind to inspect, examine, and investigate the object’s properties. [2, tr.58]
So this jhāna occurs together with this applied thought and this sustained thought and it is called, “accompanied by applied and sustained thought” as a tree is called “accompanied by flowers and fruits” [6, tr.137]
In their union they are indispensable for the achievement and stabilization of the firs jhàna [2, tr.59]
In itself vitakka is neither unwholesome (akusala) nor wholesome (kusala). [2, tr.51]

các chuẩn mực xã hội, thậm chí, dẫn đến loạn luân. Khi Thế Tôn trú ở khu vườn ông Ànathapindika (Sàvatthi tại Jetavana), có hai mẹ con đều xuất gia và an cư vào mùa mưa. Nhân danh Tỳ-kheo và Tỳ-kheo-ni, họ thường xuyên gặp mặt nhau, vì luôn luôn thấy nhau nên có sự liên hệ, thân mật và sa ngã. Với tâm sa ngã, buông bỏ sự học tập, yếu đuối, họ rơi vào thông dâm với nhau. Đức Thế Tôn quở trách họ, rồi dạy: Loài hữu tình nào ái nhiễm, tham luyến, tham đắm, say đắm, say mê, sắc đẹp / tiếng / hương / vị / xúc của nữ nhân thì sẽ sầu ưu lâu dài, vì bị rơi vào uy lực sắc / tiếng / hương/ vị / xúc của nữ nhân.15
Tai hạicủathamdụckhôngchỉởtrongphạmviđạođứcxãhộimà còn cả về mặt tâm linh. Nếu tham dục tràn ngập tâm hồn sẽ dẫn đến sự qua đời không nhẹ nhàng. Đức Phật dạy gia chủ Ànathapindika: Khi tâm không phòng hộ, thì ba nghiệp thân khẩu ý cũng không phòng hộ; do vậy, ba nghiệp đầy ứ tham dục và rỉ chảy; từ đó, ba nghiệp bị hủ bại; cuối cùng dẫn tới sự qua đời không nhẹ nhàng, ví như ngôi nhà nóc nhọn do vụng lợp nên nóc nhọn, rui kèo, vách tường không được phòng hộ; do vậy, chúng bị đấy ứ, rỉ nước; từ đó, bị hủ bại. Ngược lại, khi tâm được phòng hộ, không tham dục thì ba nghiệp không bị hủ bại, dẫn tới sự qua đời nhẹ nhàng, hiền thiện, ví như ngôi nhà nóc nhọn do khéo lợp nên nóc nhọn, rui kèo, vách tường được phòng hộ; không bị đầy ứ, rỉ nước; không bị hủ bại.16

            Sân tầm

Bắt đầu từ tham, con người sẽ tiếp tục sân, si và hung bạo dẫn đến mất tự chủ, sát sanh, trộm cắp, ngoại tình, nói láo và nguy hiểm hơn là xúi giục người khác cùng làm. Đó là những việc ác, thuộc về tội lỗi, đem lại bất hạnh lâu dài và bị những bậc trí thức trong xã hội lên án. Ngược lại, bắt đầu từ không tham hay ly tham, con người luôn tự chủ bản thân, không sát sanh, không trộm cắp, không ngoại tình, không nói láo và nhất là không xúi giục người khác làm. Đó

Với chi tiết (Tăng II) và Mẹ và con (Tăng II).
Nóc nhọn 1 và 2 (Tăng I).

là những việc thiện, không thuộc về tội lỗi, đem lại sự bình an lâu dài và dĩ nhiên không bị những trí thức trong xã hội lên án. Tất cả những bậc chân nhân tịch tịnh ở đời đều giáo dục đệ tử nhiếp phục tham-sân-si-hung bạo.17

            Hại tầm

Tôn giả Ānanda dạy tham làm mất tự chủ sẽ gây hại thêm nhiều phương diện khác nữa, đó là: (i) Nghĩ đến hại mình, hại người, hại cả hai, tâm lý luôn cảm thấy khổ ưu; (ii) không như thật rõ biết lợi mình, lợi người, lợi cả hai; (iii) thân làm ác, miệng nói ác, ý nghĩ ác;
(iv) có mắt như mù, không phân biệt được đúng sai, không có trí tuệ, luôn khổ não và không đạt niết-bàn.18

        Thiện tầm là nguồn gốc của cảm xúc tích cực

Trong kinh có dạy người từ bỏ bất thiện tầm là người đạo đức.19 Chẳng những vậy, nếu ai thực hiện và thành tựu sáu pháp xuất ly tầm, vô sân tầm, bất hại tầm, xuất ly tưởng, vô sân tưởng, bất hại tưởng thì ngay trong hiện tại sống an lạc, không hiềm hận, không ưu não, không nhiệt não và sau khi thân hoại mạng chung, sanh vào cõi lành.20
Có năm phương pháp diệt trừ bất thiện tầm khiến cho nội tâm được an trú, an tịnh, nhất tâm, định tĩnh:

Dùng một thiện tầm để diệt một bất thiện tầm như một người thợ mộc khéo léo dùng một cái nêm nhỏ đánh bật ra, đánh tung ra, đánh văng ra một cái nêm khác.
Quán chiếu nguy hiểm của nó: “Đây là những tầm bất thiện, đây là những tầm có tội, đây là những tầm có khổ báo” để phát sinh ý thức tránh xa giống như một người đàn bà hay người đàn ông trẻ tuổi, thanh xuân, tánh ưa trang sức nếu một xác rắn, xác chó, xác người được quàng vào cổ, người ấy phải lo âu, xấu hổ, ghê tởm.


Bhaddiya (Tăng II), Các vị ở Kesaputta (Tăng I) và Sàlhà (Tăng I).
Channa (Tăng I).
Hành (Tăng I).
Khổ (Tăng III).




Không nhớ, không chú ý: Khi quán sát các nguy hiểm của các ác-bất thiện tầm thì thiền sinh không ghi nhớ, không chú ý đến chúng giống như một người có mắt, không muốn thấy các sắc pháp nằm trong tầm mắt của mình, nhắm mắt lại hay ngó qua một bên.
Từng bước từ bỏ: Khi không ghi nhớ, không chú ý, thiền sinh cần phải chú ý đến đặcđiểm các tầmvàsựan trú các tầmấy. Giống như một người đang đi mau, suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi mau? Ta hãy đi chậm lại”. Trong khi đi chậm, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại đi chậm? Ta hãy dừng lại”. Trong khi dừng lại, người ấy suy nghĩ: “Tại sao ta lại dừng lại? Ta hãy ngồi xuống”. Trong khi ngồi, người ấy suy nghĩ: “Tại sao talại ngồi? Ta hãy nằm xuống”. Như vậy, thực chất của phương pháp này là thiền sinh bỏ dần các cử chỉ thô cứng và làm theo các cử chỉ tế nhị.
Tận lực: Khi chú ý đến đặc điểm như trên, nhưng nếu các ác- bất thiện tầm vẫn khởi lên thì thiền sinh phải nghiến răng, dán chặt lưỡi lên nóc họng, lấy tâm chế ngự tâm, nhiếp phục tâm, đánh bại tâm. Giống như một người lực sĩ nắm lấy đầu một người ốm yếu, hay nắm lấy vai, có thể chế ngự, nhiếp phục và đánh bại. Khi thực hiện năm phương pháp này, thiền sinh có thể chú ý / tư duy hoặc không chú ý / tư duy đến tầm nào mà mình muốn, đoạn trừ khát ái, giải thoát các kiết sử, khéo chinh phục kiêu mạn, chấm dứt khổ đau.21

Thiện tầm có một số đặc điểm sau đây: Hoạt động nhờ dựa vào đời sống tâm lý bên trong như đối tượng22, sự tiếp xúc là nguồn gốc, đều quy về cảm xúc (rất gần gũi quan điểm trị liệu cảm xúc của Tâm lý học ngày nay), được định lực dẫn đầu, niệm có thể chi phối – tác động, trí tuệ điều khiển, chúng trở thành hoàn hảo trong Niết-bàn (trở thành nhân cách, thuộc tính tâm lý khi chứng thánh).23
Về mặt tổ chức – xã hội, thiện tầm tạo nên một môi trường sống hòa hợp, hoan hỷ, không đấu tranh nhau, như sữa và nước hòa hợp, nhìn nhau với cặp mắt ái kính; dù nghĩ đến hay đi đến địa phương

Kinh An trú tầm (Trung I).
Tức là do năm thủ uẩn, bản tiếng Anh dịch không hết ý.
Tôn giả Samiddhi (Tăng IV), Căn nhà bằng gạch (Tương II) và Kinh 457. Thuyết (Tạp A-hàm), 5b, tr.1269.

ấy đều cảm thấy thoải mái. Ngược lại, nếu một tập thể thường xuyên thực hiện dục tầm, sân tầm, hại tầm thì sẽ tạo ra một môi trường sống cạnh tranh, luận tranh, đấu tranh, đả thương nhau với binh khí miệng lưỡi; chỉ cần nghĩ tới là thấy không thoải mái, huống chi là đến địa phương đó.24 Về mặt tâm linh, nhất là khi sắp lâm chung, nếu ai không gặp được Phật hoặc đệ tử Phật nhưng có thể tự mình tầm tứ những giáo pháp đã nghe, đã thông suốt thì có thể giải thoát khỏi năm hạ phần kiết sử hay đạt được vô thượng đoạn diệt sanh y.25

            Viễn ly tầm

Khi dục tầm được nhận diện và chuyển hóa thì thành viễn ly tầm. Trong Tăng chi bộ kinh, từ viễn ly có hai nghĩa: sống một mình và sống không tham dục.
Sống một mình giúp thiền sinh có thiện tầm được đầy đủ hai hoạt động tầm – tứ. “Tầm” mà không có “tứ” trong thiền định thì rất dễ trở thành người hướng ngoại, không được xem là người “sống theo pháp”. Tỳ-kheo dùng trọn cả ngày để học thông suốt pháp, thuyết pháp, đọc tụng pháp, suy tầm về pháp với tâm tùy tiện, với ý tùy quán pháp như đã được nghe, như đã được học thuộc lòng. Đây gọi là Tỳ-kheo thông đạt nhiều, thuyết pháp nhiều, đọc tụng nhiều, sưu tầm nhiều kinh điển nhưng không sống theo pháp. Ngược lại, nếu vị ấy sống độc cư an tịnh, nỗ lực chuyên chú vào nội tâm an chỉ thì được gọi là Tỳ-kheo sống theo pháp.26
Viễn ly tầm với nghĩa sống không tham dục được nhấn mạnh trong năm bài kinh Gavesì Người Tầm Cầu, Migasàlà, Upàli, Dhammika và Ugga Ở Vesàli.
Thái độ viễn ly liên hệ với ly tham được hiểu trong đời sống xã hội là tùy duyên và an nhàn. Tùy duyên gồm có: duyên đời, duyên tình, tri kỷ, hợp tan và không cố chấp. An nhàn gồm có: xa lánh thị phi, trong sạch – bao dung.

Tranh luận (Tăng I).
Sống theo pháp 1, 2 (Tăng II).
Sống theo pháp 1, 2 (Tăng II).




            Vô sân tầm

Vô sân là không giận. Thái độ vô sân có liên hệ chặt chẽ với ly tham, biểu hiện trong đời sống xã hội qua các mặt sau đây: Không tham, không tranh và không vội. Không tham gồm có: Xem nhẹ vật chất, ít muốn – biết đủ. Không tranh gồm có: Không so sánh, biết chấp nhận, hiện sinh và tin nhân quả. Không vội là từ tốn.

            Bất hại tầm

Bất hại là không hại mình và không hại người, do ly tham mà thực hiện được việc này. Không hại mình thì sống lương thiện và tích đức. Không hại người thì không dối, nhớ ơn, thương người, quên bản thân và biết chia sẻ.
Kinh Chánh kiến (Tăng I) và Suy tầm (Tăng III) dạy: Nếu ai thành tựu thiện tầm là đang thực hành con đường thông suốt và có những căn bản thắng tấn để đoạn diệt các lậu hoặc: tu tập xuất ly tầm để đoạn tận dục tầm, tu tập vô sân tầm để đoạn tận sân tầm, tu tập bất hại tầm để đoạn tận hại tầm27. Các thiện tầm là tầm viễn ly, tầm không sân và tầm không hại28. Khi kết hợp với các tâm thiện như vô tham, vô sân, vô si, tầm trở thành thiện tầm hay thiện tư duy, gồm có: viễn ly tầm là những tư duy về sự từ bỏ; vô sân tầm là những tư duy về lòng từ bi và vô hại tầm là những tư duy về sự không làm tổn hại. Ba thiện tầm này chuyển hóa trực tiếp ba bất thiện tầm nêu trên. Do tư duy và suy nghĩ đến sự viễn ly mà thiền sinh có thể xua tan những tư duy tham dục; do tư duy đến từ bi mà xua tan những tư duy sân hận và do tư duy đến những điều vô hại mà xua tan những ý nghĩ làm tổn hại. Đức Phật dạy những tư duy này không dẫn đến hại mình, người và cả hai mà dẫn đến sự tăng trưởng trí tuệ, giải thoát khỏi phiền não và chứng ngộ Niết-bàn.

The thought of renunciation is to be developed for abandoning sensual thought. The thought of good will is to be developed for abandoning the thought of ill will. The thought of harmlessness is to be developed for abandoning the thought of harming. [5b, tr.986]
The thought of renunciation, the thought of good will, the thought of non-harming [5b, tr.460]




    Hỷ - lạc và quá trình chuyển hóa cảm xúc

Hai thiền chi hỷ – lạc cũng thường đi chung với nhau và đều là các cảm xúc tích cực. Hỷ – lạc chỉ được hình thành khi thiền sinh đã làm hiện hữu trong tâm ba thiện tầm nói trên. Nói cách khác, quá trình chuyển hóa cảm xúc thực chất là quá trình chuyển hóa ba thiện tầm thành hai thiền chi hỷ và lạc.
Thiền chi hỷ là gì? Các bản chú giải phân ra năm loại hỷ tăng dần từ yếu đến mạnh như sau: Tiểu hỷ, đản hỷ, ba hỷ, khinh hỷ và biến mãn hỷ:

        Tiểu hỷ hiện hữu khi các phiền não lắng dịu và thiền sinh cảm nghiệm những dấu hiệu29 của định đang được thành tựu.
        Đản hỷ tựa như ánh chớp thỉnh thoảng lóe lên, thoáng qua và không thể duy trì lâu.
        Ba hỷ tựa mưa rào đổ xuống thân rồi biến mất như những lượn sóng đổ lên bờ. Ba hỷ chạy khắp thân, tạo ra một sự rung động mãnh liệt30 nhưng không để lại một ảnh hưởng dài lâu.
        Khinh hỷ duy trì lâu hơn nhưng có khuynh hướng khuấy động định.
        Biến mãn hỷ dẫn đến sự sâu lắng nhất của định, thấm nhuần toàn thân khiến cho thân giống như một cái túi căng phồng hoặc như một hang núi bị ngập lụt với trận hồng thủy. Biến mãn hỷ chính là chi thiền hỷ của Sơ thiền. Thanh tịnh đạo luận tuyên bố: “Biến mãn hỷ là căn bản của định và nó tăng trưởng dần theo định” và “hỷ sẽ làm viên mãn thân khinh an và tâm khinh an; thân lạc và tâm lạc; sát na định, cận định và an chỉ định (absorption)”. Hỷ ở đây là do ly dục, ly ác pháp mà sanh ra.

Thiền chi lạc là gì? Lạc của Sơ thiền là một hình thức của hỷ. Đức Phật phân biệt những loại lạc tương phản nhau: Lạc của đời sống tại gia và xuất gia, lạc trong ngũ dục và sự xuất ly, lạc có và không chấp

Indications.
Great thrill.

thủ, lạc còn và không còn lậu hoặc, lạc vật chất và tinh thần, lạc của định và không định, v.v… Lạc cùng sanh với tham và hướng đến các sắc, thanh, hương, vị, xúc khả ái là dục lạc. Lạc cùng sanh với các thiện căn do xuất ly khỏi những sự hưởng dục là lạc tinh thần hay xuất ly lạc. Lạc của thiền cũng là lạc tinh thần nhưng do ly dục và ly các triền cái sanh. Lạc này còn được gọi là lạc của định. Lạc theo sau hỷ và khinh an nhưng dẫn đến định. Kinh Upanisā nói: “Hân hoan là trợ duyên cho hỷ; hỷ là trợ duyên cho khinh an; khinh an là trợ duyên cho lạc và lạc là trợ duyên cho định”. Định do lạc sanh là bậc thiền tạo căn bản cho tuệ.
Thật ra, lạc đã có mặt khi hỷ bắt đầu, nhưng ở giai đoạn mang tên nó chẳng qua là sự nổi bật lên chứ không phải lúc đó mới xuất hiện, không phải chúng loại trừ lẫn nhau mà là hỷ xuất hiện trước lạc. Hỷ và lạc liên kết với nhau rất mật thiết nhưng không phải là hai trạng thái giống nhau: “Có hỷ tất có lạc, nhưng có lạc không nhất thiết phải có hỷ”. Trong Tam thiền, có lạc nhưng không có hỷ. Chú giải Bộ Pháp Tụ (Aṭṭhasālini) giải thích hỷ là “sự thích thú khi đạt được điều mong muốn”, lạc là “sự thọ hưởng hương vị của cái đạt được ấy” và minh họa sự khác nhau này bằng một ví dụ sinh động: Đối với khách lữ hành mệt mỏi trong sa mạc, khi nghe nói đến hay thấy nước hoặc một bóng cây thì hỷ, nhưng khi uống được nước hay bước vào trong bóng cây và thốt lên: “Ôi hạnh phúc quá! Hạnh phúc quá!” thì mới lạc.31
Ở một góc độ khác, hỷ-lạc tức hạnh phúc có sẵn ở trong nội tâm, việc chuyển hóa bất thiện tầm thành thiện tầm chỉ làm cho chúng hiển lộ ra. Chúng ta khai mở hỷ-lạc có sẵn. Chúng ta thiền định thay vì theo đuổi việc khai mở luân xa hay những điều huyền bí thì tốt nhất theo lời Phật dạy là khai mở hỷ-lạc hay hạnh phúc có sẵn trong nội tâm, tức quá trình chuyển hóa cảm xúc trên cơ sở lý thuyết Sơ thiền.
Tóm lại, cảm xúc và quá trình chuyển hóa cảm xúc là những vấn đề quan trọng, có ý nghĩa đối với cuộc sống con người, kể cả việc tu

2, tr.59 và tiếp.

hành. Tâm lý học và Thiền định Phật giáo (ở đây là Sơ thiền) quan tâm đến điều đó là hoàn toàn đúng đắn, phù hợp với thực tế.
Tâm lý học khảo sát cảm xúc từ cơ sở sinh lý thần kinh và những tác động xã hội vào tâm lý con người, quá trình chuyển hóa cảm xúc chủ yếu là dùng ý chí để tự kiểm soát bản thân và sự cởi mở trong tương tác với các mối quan hệ xã hội. Sơ thiền khảo sát cảm xúc từ cơ sở đạo đức, quá trình chuyển hóa cảm xúc gắn với việc đình chỉ tâm trí, tâm hiền thiện và phát sinh hỷ-lạc.
Trong khi thực hành việc chuyển hóa cảm xúc, người ta nhận thấy hai hệ thống lý thuyết này có thể bổ sung lẫn nhau, giúp cho thiền sinh nhận diện chính xác và chuyển hóa thành công cảm xúc của mình.


Tài liệu tham khảo
Daniel Goleman, Trí tuệ cảm xúc, Bloomsbury Publishing Plc, Lon- don, 2009.
Henepola Gunaratana, Con đường chỉ quán, Motilal Banarsidass Publishers Private Limited, Delhi, 2016.
Nikāya (Bhikkhu Sujato dịch): a. Trung bộ kinh, b. Tăng chi bộ kinh, c.
Tương ưng bộ kinh, PDF Sutta Central.
Nikāya (HT. Thích Minh Châu dịch), NXB Tôn giáo: a. Trung bộ kinh (1986), b. Tăng chi bộ kinh (1996), c. Tương ưng bộ kinh (1993).
Nikāya, Wisdom Publications (Mỹ):
Trung bộ kinh (Bhikkhu Nanamoli dịch, Bhikkhu Bodhi biên tập), 1995.
Tăng chi bộ kinh (Bhikkhu Bodhi dịch), 2012.
Tương ưng bộ kinh, (Bhikkhu Bodhi dịch), 2000.
Phật Âm, Thanh tịnh đạo luận (Nanamoli dịch), Buddhist Publica- tion Society, Sri Lanka, 2010.
Robert A. Baron, Tâm lý học, Allyn and Bacon, Mỹ, 1992.

5/5 - (1 bình chọn)
Scroll to Top