Ý Nghĩa Và Hướng Dẫn Thực Hành Pháp Tu Trì Lục Độ Phật Mẫu Tara

Ý NGHĨA VÀ HƯỚNG DẪN THỰC HÀNH
PHÁP TU TRÌ LỤC ĐỘ PHẬT MẪU TARA,
CHÙA HÀ TIÊN, VĨNH PHÚC
NGÀY 14/4

Chủ nhật ngày 14/4 (tức 5.3 Â.L), Đức Nhiếp Chính
Vương Gyalwa Dokhampa và tăng đoàn Truyền thừa quang lâm, cầu nguyện quốc thái
dân an và ban đại lễ gia trì quán đỉnh cộng đồng Lục Độ Phật Mẫu Tara.

Từ hàng ngàn năm
nay, đức Lục Độ Phật Mẫu là vị Bản tôn Mẫu tính được tôn kính nhất trong truyền
thống
Kim Cương thừa. Trong vô số kiếp quá khứ, khi thấu suốt căn nguyên của
khổ đau luân hồi, với lòng từ bi vô hạn và hạnh nguyện lợi tha, Đức Lục Độ Phật
Mẫu
Tara đã phát nguyện rằng bất kỳ chúng sinh nào nghe được danh hiệu Ngài,
nhìn thấy Ngài, trì niệm chân ngôn của Ngài thì tất những ước nguyện thế gian
đều được sở cầu như ý, ngay cả tâm nguyện xuất thế gian cũng sẽ viên mãn. Phật
Mẫu
Tara vì thế nêu biểu cho phẩm chất giải thoátbảo hộ hữu tình. Ngài là bậc
từ mẫu đáp ứng mọi thỉnh cầu, giải thoát chúng sinh khỏi mọi hiểm nguy, chướng
ngại
trên phương diện thế gian và cả trên hành trình thực hành tâm linh.

Để giúp đỡ quý
vị Phật tử có sự chuẩn bị và tri thức cần thiết khi tham dự Pháp hội, Drukpa
Việt Nam xin giới thiệu toát yếu các khai thị của Đức Pháp Vương Gyalwang
Drukpa và Đức Nhiếp Chính Vương Gyalwa Dokhampa về ý nghĩa và hướng dẫn thực
hành pháp
tu Lục Độ Phật Mẫu Tara. 

OM JÉ TSUNMA PHAGMA DrOLMALA CHHAGTSHEL LO/

OM- Kính lễ Lục Độ Mẫu
Bản tôn!

CHHAGTSHEL TARÉ NYURMA PAMO/

Chí thành đỉnh lễ
quy y

Tara Phật Mẫu dũng
uy phi thường,

TUTTARA YI JIGPA SELMA/

TUTTARA đại lực
cường

Bao nhiêu sợ hãi Ngài
thương giải trừ,

TURÉ DONKUN DJINPÉ DrOLMA/

Âm TURE nghĩa thắng dư

Mọi điều sở nguyện
ban cho toại thành,

SOHA YIGÉ KHYÖELA DÜETO/

SOHA hai chữ diệu linh

1. Lợi ích của pháp tu trì Lục Độ Phật Mẫu Tara.

    Cuộc
    sống đời người luôn kèm theo các nỗi lo sợ bên trong và bên ngoài, bám suốt đeo
    đẳng từ khi sinh ra đến lúc chết đi, từ vô thủy luân hồi tới mãi về sau cũng
    như vậy. Sinh ra từ giọt nước mắt của
    lòng bi mẫn Quan Âm, Đức Lục Độ Phật Mẫu hiện diện nơi thế gian để ban gia trì
    trường thọ, cứu giúp chúng ta thoát khỏi mọi tai ách, mang tới hạnh phúc an lạc
    cho vô lượng chúng sinh. Ngài là Bậc hộ trì che trở, giải cứu chúng sinh khỏi
    tám nỗi sợ hãi, bao gồm những sợ hãi về tứ đại, các bi kịch thế gian và những
    hoạn nạn hiểm nguy nơi thân tâm. Bất kỳ ai nếu có bất kỳ khó khăn chướng ngại
    nào trong cuộc sống hoặc có bất kỳ mong nguyện nào chỉ cần chí thành cầu nguyện
    đến Ngài tức thời được giải trừ nguy hiểm.

    Pháp thực hành Tara liên quan đến việc cầu nguyện
    lên 21 hóa thân Tara để bảo vệ chống lại các tác động phương hại khác nhau,
    chẳng hạn như Phật mẫu Tara an bình màu trắng chống lại sự suy thoái của thế
    giới
    hữu tình, những thù nghịch công kích, ốm đau, ma thuật; đức Tara màu đỏ
    chống lại hiểm họa từ nước như lụt lội, chết đuối, ô nhiễm nước ăn, các tác
    động
    xấu do ham muốn gây ra; đức Tara màu vàng chống lại thảm họa từ thiên
    thạch, sấm chớt, mưa đá, tuyết lở cùng tác hại từ các sinh linh ma quỷ, thù
    hận, ghen tỵ; Phật mẫu Tara bảo vệ chống lại sự phương hại từ Vũ khí, giúp thế
    giới
    tránh cảnh chiến tranh, diệt vong, những thảm họa đối nghịch săn đuổi
    tác hại của xúc tình phiền não sân giận… 21 hóa thân Tara tượng trưng cho hai
    mươi mốt hạnh nguyện, phù hợp với các mong cầu khác nhau của chúng sinh, giúp
    chúng sinh thành tựu tu tậpbảo hộ họ khỏi tai nạn nguy hiểm. Những ai có
    thể hành trì ba lần hoặc bảy lần cầu nguyện đến 21 Độ Mẫu mỗi ngày thì mọi mong
    nguyện rất dễ thành tựu, mọi chướng ngại sẽ dễ vượt qua.

    Đức Lục Độ Phật
    Mẫu
    như thế được tôn xưng là mẹ của tất cả Chư Phật, mẹ của tất cả vũ trụ
    của hết thảy yếu tố đất, nước, gió, lửa. Bởi Ngài nắm giữ toàn bộ sự gia trì
    nên bất cứ chúng sinh cầu nguyện điều gì với tâm chí thành tha thiết đều sẽ
    được như nguyện. Vì thế pháp thực hành lễ tán cúng dàng đức Lục Độ Phật Mẫu
    việc trì niệm chân ngôn của Ngài là vô cùng quan trọng và thù thắng.

    2. Ý nghĩa của Đức Tara

      Kinh điểngiáo lý Kim Cương thừa đưa ra nhiều
      cách tiếp cận về ý nghĩa của Đức Tara. Theo cách hiểu chung nhất, Tara là một
      vị Phật. Dưới góc độ lịch sử, Ngài từng là một nữ hành giả phát Bồ đề tâm đạt
      giác ngộ tối thượng để lợi ích chúng sinh. Kinh điển cũng dạy rằng Đức Tara là
      giọt lệ của lòng bi mẫn, hiện thân công hạnh của Đức Phật Quan Âm. Theo cách
      hiểu khác, đức Tara là hiện thân của phẩm hạnh giác ngộ. Cuối cùng, cũng có thể
      hiểu đức Tara là tiềm năng Phật tính sẵn có nơi mỗi người.

      Đức Tara là Phật

      Đức Tara hay Lục
      Độ
      Phật Mẫuđức Phật, bất kỳ ai đều có thể trở thành Phật. Chúng ta cần biết
      có rất nhiều đức Phật và các cõi Tịnh độ của các Ngài song tâm toàn tri chỉ có
      một và phẩm hạnh, công đức, trí tuệ của các bậc giác ngộ đều như nhau. Chư Phật
      đã loại bỏ được tất cả phiền não, tựu chung được chia làm hai loại: Phiền não
      chướng
      Sở tri chướng. Những chướng ngại này là nguyên nhân khiến chúng ta
      mắc kẹt trong đau khổ luân hồi. Sở tri
      chướng
      vô minh phiền não vi tế trong tâm chúng sinh, phiền não chướng là những trạng thái si
      , sân giận, tham áinghiệp quả đã vận chuyển vòng quay luân hồi. Bất kỳ
      đức Phật nào đều hoàn toàn xả ly mọi loại phiền não trên và hoàn thiện trưởng
      dưỡng
      tất cả phẩm hạnh như Từ, Bi Hỷ, Xả cũng như viên mãn công hạnh Ba la mật
      bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ.

      Sắc tướng Phật
      mẫu
      của Đức Tara biểu trưng cho trí tuệ
      nhân tố chính để loại bỏ vô minh. Sự vô minh này đã gây lầm lẫn thực tại và là
      gốc rễ của sự đau khổ. Người phụ nữxu hướng cảm nhận và nhận thức nhanh
      chóng nhờ vào trực giáctrí tuệ bí mật. Đức Tara biểu trưng cho phẩm hạnh
      này! Một cách không quản ngại, Ngài có khả năng giúp chúng ta phát triển những
      phẩm hạnh đó. Vì Ngài biểu trưng cho trí tuệ chứng ngộ thực tại, tâm tự do khỏi
      vô minh chấp thủ, bản ngã nên Ngài được tán thán là Mẹ của tất cả chư Phật.

      Đức Tara là nhân vật lịch sử

      Vô số kiếp trong một cảnh giới khác, có một công
      chúa
      tên là Yeshe Dawa. Nhờ sở học và trí tuệ của mình, nàng có lòng tin kiên
      cố
      với ba ngôi Tam Bảo. Nàng thấu hiểu đời sống bất như ý của bản chất luân hồi
      quyết định giải thoát khỏi tất cả mọi đau khổ. Do thấu hiểu tất cả chúng
      sinh
      cũng giống như mình đều muốn hạnh phúc và không muốn khổ đau nên Công chúa
      đã trưởng dưỡng lòng từ bi và tình yêu thương hướng về muôn loài hữu tình. Nàng
      không thích lối sống xa hoa trong cung điện vàng ngọc, và đã phát lời nguyện
      dẫn dắt hướng đạo cho hàng nghìn chúng sinh trên con đường giải thoát mỗi ngày
      trước bữa ăn sáng, cho hàng nghìn chúng sinh trước bữa ăn trưa, và thậm chí
      nhiều hơn nữa trước khi đi ngủ. Vì nhân duyên này, công chúa được tôn xưng là Arya (Bậc tôn quý) có nghĩa là Nàng có
      thể chứng ngộ trực tiếp bản chất của thực tại và danh xưng đó biểu lộ các hạnh
      nguyện
      giải thoát của Nàng. Một bậc lãnh tụ tâm linh của thời đó đã khuyên Công
      chúa
      hãy cầu nguyện để tái sinhgiác ngộ trong thân trượng phu. Nhưng Công
      chúa
      Yeshe Drawa đã phát nguyện thành tựu giác ngộ trong thân người nữ và còn
      liên tục hóa thân trở lại trong hình tướng nữ nhân để cứu độ hữu tình. Và từ
      đó, Ngài bắt đầu tích lũy những công đức trí tuệ cho đến khi đạt giác ngộ trong
      hình tướng Đức Phật Mẫu Tara.

      Dù cho chúng ta
      là thân nam hay nữ thì Đức Tara lịch sử là tấm gương cho chúng ta. Giống như
      mọi hữu tình, Ngài cũng từng là một chúng sinh bình thường, cũng từng bị chi
      phối
      bởi xúc tình phiền não. Nhưng nhờ phát nguyện, tu tập Phật pháp rèn luyện tâm linh nên Ngài đã đạt được
      toàn giác. Giống như vậy, nếu biết phát đại nguyệnthực hành giáo pháp với
      niềm tinh tấn hỷ lạc, chúng ta cũng có thể được thành tựu giác ngộ như Ngài.
      Câu chuyện về Ngài là tấm gương sách tấn lớn lao đối với mỗi chúng ta trên con
      đường
      tu tập!

      Tara là hiện thân công hạnh của Đức Quan Âm

      Trong một bản Kinh Lục Độ Phật Mẫu khác có kể rằng:
      Đức Tara được sinh ra từ giọt nước mắt bi mẫn của Đức Quan Âm. Nhân duyên
      Đức Avalokiteshvara hay Đức Quan Âm đã không ngừng cứu độ chúng sinh để giải
      thoát
      tất cả thoát khỏi cõi địa ngục thống khổ. Sau khi hoàn thành công hạnh
      này, Ngài chỉ kịp nghỉ ngơi một chút, nhưng ngay sau đó Ngài nhận ra rằng trong
      cõi địa ngục thống khổ kia thoáng chốc lại đầy tất cả những chúng sinh mình vừa
      cứu khỏi, bởi họ lại vừa tạo tác thêm những ác nghiệp cực trọng. Trong khoảnh
      khắc tuyệt vọng, Đức Quan Âm đã nhỏ những giọt nước mắt bi mẫn vì lời nguyện
      cứu khổ cho những chúng sinh vô minh đó. Một trong những giọt nước mắt từ bi
      của Đức Quan Âm đã biến thành Đức Lục Độ Phật Mẫu Tara để khích lệ Ngài trên
      con đường Bồ Tát hạnh. Khi đó, Đức Tara đã phát nguyện rằng: “Xin Ngài
      đừng tuyệt vọng, tôi nguyện cùng Ngài giải thoát tất cả chúng sinh vô minh
      trong cõi luân hồi thống khổ mà không để sót một ai!”

      Đức Tara phát
      nguyện
      rằng bất kỳ người nào nghe được danh hiệu Ngài, nhìn thấy Ngài, niệm
      danh hiệu Ngài thì tất nhưng ước nguyện thế gian đều được sở cầu như ý, ngay cả
      tâm nguyện xuất thế gian cũng được được
      viên mãn. Nguyên do đức Tara nhìn thấy nỗi khổ của luân hồi vì mong nguyện thế
      gian
      của chúng sinh không được như ý. Ngài liền phát nguyện có đầy đủ năng lực
      giúp họ viên mãn được mọi sở cầu thế gian, và để rồi dần giúp họ giác ngộ về
      chân lý tuyệt đối. Nếu biết thực hành nghi quỹ Tara một cách đúng đắn với Bồ Đề
      tâm
      chân thật vì lợi ích giác ngộ cho hết thảy khổ não chúng sinh thì tất cả
      những gì mà chúng ta mong nguyện tự lợi lợi tha đều được thành tựu.

      Đức Tara là hiện thân của các Công hạnh giác
      ngộ

      Tâm đức Phật
      siêu vượt các khái niệm hạn hẹp hiện tại của phàm phu, tất cả các bậc giác ngộ
      đều thực hành vô số kiếp để tịnh hóa tâm và phát triển khả năng lợi ích chúng
      sinh
      . Mỗi hóa thân của chư Phật nêu biểu cho những phẩm hạnh giác ngộ như Từ,
      Bi, Hỷ, Xả, bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tấn, thiền định, trí tuệ. Đức Phật
      Mẫu Tara giống như những Bản tôn thiền định khác là một trong những hóa thân
      đó!

      Nếu như mỗi hóa
      thân
      có thể biểu trưng nhấn mạnh vào những phẩm hạnh cụ thể, thì đức Tara xanh
      biểu trưng cho Công hạnh giác ngộ của
      mười phương ba đời chư Phật, trong khi đức Quan Âmhóa thân của lòng Từ bi hay đức Văn Thù nêu biểu cho Trí tuệ… Các hóa thân của Đức Lục Độ
      Phật Mẫu Tara đều được mô tảbản tôn có thể tiêu trừ sợ hãi, chướng ngại
      đem lại sự viên mãn thành tựu cho chúng sinh, đặc biệt còn có đức Bạch Độ Mẫu
      Tara với khả năng giúp tiêu trừ bệnh tật và ban cho đời sống trường thọ.

      Đức Tara là tinh túy Phật

      Quan điểm thứ ba
      về Đức Tara là phản ánh của tiềm năng Phật tính hiện tại trong mỗi chúng ta, sẽ
      được phát triển toàn vẹn trong tương lai. Làm thế nào để chứng ngộ được Phật
      tính? Một cách ngắn gọn, chúng ta tu tập theo con đường giác ngộ, có ba điểm
      chính yếu nên khắc cốt ghi tâm:

      v Thứ nhất: Phát tâm thoát khỏi luân hồi đau
      khổ
      .

      v Thứ hai: Phát khởitrưởng dưỡng Bồ đề tâm
      lợi ích chúng sinh.

      v Thứ ba: Chính kiến, trí tuệ thực chứng tính
      không
      hợp nhất với bản tâm tuyệt đối của chính mình.

      Thân tâm vi tế
      của chúng ta có khả năng chuyển hóa thành thân tâm giác ngộ hoàn hảo như chư
      Phật. Khi quán tưởng đức Phật Mẫu Tara và sùng kính Ngài, chúng ta cần thấu
      hiểu rằng đó là công hạnh, trí tuệ, thần lực mà mình đang được viên mãn, nhờ đó
      sẽ được truyền cảm hứng để chuyển hóa tâm trên con đường thành tựu tối thượng!

      Bởi năng lực phi
      thường
      vì lợi ích chúng sinh, từ hàng ngàn năm nay, đức Lục Độ Phật Mẫu là vị
      Bản tôn Mẫu tính được tôn kính nhất trong truyền thống Kim Cương Thừa. Ngày và
      đêm, lúc an bình hay loạn lạc chiến tranh luôn có các chúng sinh ở khắp nơi cầu
      nguyện
      thỉnh cầu sự gia trìcứu độ của Ngài, và Ngài không hề từ nan quản
      ngại trong việc viên mãn công hạnh đó. Mật pháp cầu nguyện cúng dàng Tara là
      pháp tu trì cần thiết của tất cả hành giả Kim cương thừa để có thể thực hành
      Tam mật tương ưng, kết nối với Ngài và qua đó viên mãn tâm nguyện lợi tha; Đây
      chính là pháp thực hành phổ thôngthiết thực nhất mà người Phật tử nên hành
      trì
      để vững bước trên hành trình giác ngộ!

      3. Ý nghĩa hình ảnh Bản tôn Lục Độ Phật Mẫu

        Phương pháp hiệu
        quả
        để vượt qua chướng ngạiđạt được thành công trong cuộc sống cũng như
        thành tựu giác ngộ là sự thực hành, cầu nguyện thỉnh cầu Đức Tara. Ngài là bậc
        giải thoát, hiện thân của trí tuệ, lòng bi mẫn, tình yêu thươngđặc biệt
        công hạnh thiện xảo của mười phương chư Phật. Mỗi chi tiết trong hình ảnh của
        đức Tara nêu biểu của các khía cạnh khác nhau của con đường Đạo giải thoát.
        Chúng ta nên thiền quán về đức Tara để trưởng dưỡng Bồ đề tâm từ sâu thẳm trong
        trong tim, phát triển tình yêu thươnglòng bi mẫn mạnh mẽ, đích thực hướng
        đến tất cả chúng sinh, làm tươi mới tim mình, chí tâm với pháp thực hành và lân
        mẫn
        với Thượng sư chứng ngộ để thực hành Thượng Sư Tara giúp chuyển hóa tất cả
        những thân, khẩu, ý nhiễm ô của bạn trở thành thân, khẩu, ý linh thiêng của đức
        Lục Độ Phật Mẫu.

        Đức Tara là hiện
        thân
        hợp nhất của đại lạctính không. Sự đại hỷ lạc phương tiện
        thiện xảo
        trí tuệ tính không của tất cả chư Phật đều xuất hiện trong sắc
        thân
        của Đức Tara để truyền cảm hứng cho chúng ta phát triển Bồ đề tâm, trưởng
        dưỡng
        những công hạnh lợi tha. Nhờ vào hiểu biết các ý nghĩa, biểu tượng và các
        phẩm chất của sắc thân của Đức Tara, chúng ta sẽ có niềm tin chí thànhtinh
        tấn
        đi theo con đường Ngài hướng đạo để tỏa chiếu những phẩm chất, công hạnh,
        thần lực Tara trong tự thân chúng ta.

        Trước hết, mầu
        sắc của Đức Phật Mẫu Tara biểu trưng các công hạnh thành tựu. Dù Ngài có cùng
        phẩm hạnh như là các hiện thân của bậc toàn tri khác, Đức Tara đặc biệt hiện
        thân
        cho các công hạnh giác ngộ của chư Phật, gia trì đem lại lợi íchchúng
        ta
        . Thêm vào đó, Ngài đại diện khía cạnh thanh tịnh của Không đại, vì Không đại
        bao hàm tất cả các sự vật hiện tượng. Những ảnh hưởngcông hạnh của Đức Tara
        làm những phẩm hạnh vô ngã vị tha tiềm tàng của chúng ta nở hoa giác ngộ thơm
        ngát muôn phương. Những hạt giống tốt mọc dễ dàng là niềm vui của người nông
        dân
        . Cũng vậy, sắc xanh của Ngài nêu biểu cho sự thành công của sự xả bình đẳng
        trong thế giới trần tục, cũng như trong sự phát triển thế giới tâm linh cho
        chúng ta cảm giác vui vẻ, hy vọnglạc quan. Những tâm nguyện của Đức Tara có
        thể dễ dàng nở hoa kết trái và hạnh nguyện của Ngài nhanh chóng cảm ứng tới
        chúng sinh không thể nghĩ bàn. Vì lý do này, bằng sự quán tưởng và cầu nguyện
        Đức Tara, chúng tanăng lực để tạo ra nhân của hạnh phúc và sự thông tuệ
        trong sự thực hành pháp trên con đường tự lợi, lợi tha.

        Sắc thân của Đức
        Tara kết tinh bằng ánh sáng và thuộc về phương Bắc. Thân ánh sáng của Ngài xuất
        hiện
        nhưng không thể nắm bắt, giống như cầu vồng, ảo cảnh. Thân ánh sáng này là
        biểu trưng cho sự hợp nhất của hai chân lý: Chân lý tương đốiChân lý tuyệt
        đối
        . Trong mức độ chân lý tương đối, Đức Tara xuất hiện tồn tại. Ấy vậy mà khi
        chúng ta tìm kiếm sự tồn tại tuyệt đối của Ngài thì không thể tìm thấy bất kỳ
        thứ gì tồn tại một cách cố hữu, độc lập từ các nhân và điều kiện, các phần,
        thuật ngữ và khái niệm. Đức Tara xuất hiện một cách tương đối giống như ảo
        giác, không thể tìm thấy nắm bắt được và chỉ là tính không.

        Thân của Đức
        Tara diễn tả sự nội chứng bên trong và các công hạnh vị tha bên ngoài. Tư thế
        vũ điệu du hý của Ngài tự do, cởi mở và thân thiện, chân phải của Ngài duỗi
        xuống chỉ ra sự sẵn sàng bước xuống cõi luân hồi đau khổ để cứu giúp chúng ta
        chúng sinh vô minh. Nhờ năng lực của lòng bi mẫn , Đức Tara có thể ứng hiện
        trong mọi cõi giới. Ngài không trốn tránh sự khổ đau mà đối mặt nó một cách
        úy
        từ bi bằng cách trung hòa đau khổ.

        Chân trái Ngài
        co vào phía trong lòng, tỏ rõ rằng Ngài kiểm soát toàn bộ năng lượng vi tế bên
        trong, từ bi không quản ngại vấn đề gì, cho dù ai đó tán thán hay hủy báng, làm
        tổn hại hay giúp đỡ, năng lực của Ngài không vì thế trở nên mất cân bằng và tâm
        Ngài không rời bình đẳng xả.

        Tay phải Ngài
        trong tư thế thực chứng siêu việt bằng cách thực hành tu tập để tự thân thành
        tựu sự chứng ngộ. Tư thế này cũng gọi là Thí Nguyện Ấn là tư thế bố thí nêu
        biểu Ngài sẵn sàng ban cho tài sản, tình yêu thương, sự bảo hộgiáo pháp để
        tất cả chúng sinh tùy theo những nhu cầu và những mong ước của họ đều được viên
        mãn
        .

         Tay trái của Ngài là Ấn Tam Bảo, với ngón tay
        cái chạm vào ngón tay đeo nhẫn và 3 ngón tay kia hướng thẳng, 3 ngón duỗi thẳng
        nêu biểu Tam bảo Phật, Pháp, Tăng có nghĩa rằng giao phó bản thân chúng ta
        nương tựa Ba ngôi báu và thực hành giáo pháp giải thoát. Ngón cái và ngón áp út
        chạm nhau nêu biểu chúng ta có thể hợp nhất lòng từ bi hỷ lạctrí tuệ tính
        không
        .

        Tay phải của Đức
        Tara và chân phải đều duỗi hướng ra phía ngoài, nhấn mạnh các công hạnh hạnh từ
        bi
        vị tha, phương tiện thiện xảo của con đường giác ngộ.Tay trái và chân trái
        của Ngài đều thu vào phía người biểu đạt sự điềm tĩnh an bình bên trong đạt
        được
        thông qua việc thực hành trí tuệ của đạo giải thoát.

        Trong mỗi bàn
        tay của Ngài trì giữ hoa Utpala, hoa
        sen xanh
        . Bên phía tay trái, một bông nụ là nêu biểu chư Phật tương lai, bông
        nở hoàn toàn là nêu biểu chư Phật quá khứ, bông đang nở là nêu biểu đức Phật
        hiện
        tại. Trên vương miện của Đức Tara là Bản Sư Di Đà an bìnhmỉm cười. Vì
        đức Phật Di Đà là bậc thượng sư hướng đạo tâm linh của Đức Tara, được an trí
        trên vương miện của đức Tara nhằm nêu biểu tầm quan trọng khi có bậc Căn bản
        Thượng sư đầy đủ phẩm hạnh trí tuệlòng từ bi dẫn dắt đệ tử đi đúng trên con
        đường
        giác ngộ, và cũng nêu biểu Đức Tara luôn trú tâm vào giáo pháp mà Ngài
        được đón nhận từ bậc Thượng Sư của mình. Điều này nhắc nhở chúng ta thực hành
        noi theo thiện hạnh của Ngài.

        Tiếp theo là các
        sức trang hoàng. Nếu phàm nhân chúng ta thường trang điểm cho thân thể mình
        những trang sức bên ngoài để trông cho đẹp mắt thì vẻ đẹp tiềm ẩn bên trong đức
        Tara là lòng từ, bi, hỷ, xả mới thực sự là trang sức của Ngài. Sáu sức trang
        hoàng
        : Vòng cổ, vòng tay, khuyên tai, vòng chân, đai lưng, vương miện bằng ngọc
        báu sáng chói trang hoàng trên sắc thân Ngài nêu biểu cho sự viên mãn sáu Ba la
        mật
        bố thí, trì giới, nhẫn nhục, tinh tiến, thiền địnhtrí tuệ Ba La Mật
        và mọi công hạnh lợi tha này là trang sức giải thoát của báo thân Ngài.

        Đức Tara cũng
        trang hoàng với ba chữ chủng tử, chủng tử OM
        trên vương miện, chữ AH tại luân xa
        cổ họng và chữ HUNG tại luân xa tim.
        Ba chữ chủng tử này tương ứng với thân, khẩu, ý giác ngộ của Phật và nêu biểu
        cho Tam quy: Phật, Pháp, Tăng. Những chữ chủng tử này thường dùng làm đối
        tượng vi tế khi hành giả chú tâm thiền định. Ba chủng tử tự nhắc nhở những
        phẩm hạnh mà chúng ta đang trưởng dưỡng trong chính mình, đó là kết quả thực
        hành
        Phật Pháp. Mỗi đặc điểm sắc tướng của Đức Tara minh hoạ cho toàn bộ con đường
        giác ngộ đạt đến Phật quả và Tara là hợp nhất các tinh túy đức tính, thần lực
        công hạnh giác ngộ.

        4. Cốt yếu quán tưởng thực hành Bản tôn Lục Độ Phật
        Mẫu
        Tara

          Để có thể thực
          hành pháp
          tu trì Lục Độ Phật Mẫu Tara, các Phật tử cần tìm cầu và thụ nhận quán
          đỉnh
          Tara để đón nhận dòng ân phúc gia trì từ Đức Phật Mẫu Tara, từ bậc Kim
          Cương
          Thượng Sư bất khả phân với Bản tôn Tara và từ Truyền thừa giác ngộ để
          được phép tu tập, trì tụng chân ngôn cũng như tự quán thân mình là Đức Lục Độ
          Phật Mẫu.

          Trước khi đi vào
          phần nghi quỹ chính, hành giả phải thực hành quy yphát Bồ đề tâm. Việc này vô cùng quan trọng
          bởi nguyên nhân của những khổ đau chúng ta đang phải chịu là vì bám chấp vào
          bản ngã, chỉ khư khư nghĩ đến cá nhân, gia đình và những người thân của mình.
          Tâm chúng ta rất ít khi mở rộng để nghĩ đến người khác. Chính về những tâm yêu
          ghét như vậy chúng ta tạo vô số ác nghiệp với kết quả là sự khổ đau và trôi lăn
          trong luân hồi sinh tử. Bởi vậy, khi thực hành Phật Pháp, chúng ta không chỉ
          cầu nguyện riêng cho cá nhân mình, mà còn phải phát tâm Bồ đề, mở rộng tâm mình cầu nguyện cho tất cả pháp giới chúng
          sinh
          , qua đó chúng ta bớt đi bản ngã và biết sống vô ngã vị tha hơn. Sau đó chúng ta sẽ triệu thỉnh Đức Phật
          Mẫu Tara và quán tưởng Ngài hiển diện sống động, bất khả phân với bậc Căn bản Thượng
          (là tinh túy của Tam căn bản và là sự hợp nhất của tất cả chư Thượng sư giác
          ngộ
          của Truyền thừa Drukpa). Nếu có thời gian thì có thể trì tiếp lời cầu
          nguyện
          tới 21 Lục Độ Mẫu, nếu khôngthời gian thì chúng ta sẽ trì thẳng vào
          câu chân ngôn “Om Tare Tutare Ture Soha”, có thể trì 3 tràng, 7 tràng hoặc 21
          tràng, càng nhiều càng tốt. Và sau khi trì chú xong chúng ta sẽ quán tưởng hòa
          tan. Quán tưởng Đức Phật Mẫu Tara hòa nhập tan vào trong mình và bản thân
          chúng ta an trụ trong tự tính bất khả phân với tâm giác ngộ của Đức Phật Mẫu
          Tara. Không nghĩ về quá khứ, không nghĩ về tương lai, không phân biệt hiện tại,
          an trú trong trạng thái vô niệm tỉnh giác như vậy càng lâu càng tốt.

          Việc quán hòa
          tan để an trụ trong tự tính tâm là một việc vô cùng quan trọng. Chẳng hạn khi tâm chúng ta đang nhiều
          phiền não khổ đau, đang nhiều căng thẳng, chúng ta có thể quán Đức Pháp Vương
          bất khả phân với Đức Phật Mẫu Tara rồi hòa nhập tan vào trong chúng ta, chúng
          ta
          an trụ nương tựa hòa nhập làm một trong tự tính tâm giác ngộ của Ngài. Nhờ
          quán tưởng như vậy, thư giãn như thế chúng ta sẽ giảm bớt căng thẳng lo âu
          trong đời sống phàm tình. Và tâm chúng ta sẽ thư giãn hơn, chúng ta sẽ hiểu ý
          nghĩa của những của cải vật chất, những thứ thành công mang tính thế gian chỉ
          có mang tính chất tương đối, còn hạnh phúc chân thật nhất chính là hạnh phúc
          chúng ta tìm được sự nghỉ ngơi an lạc trong đáy sâu tâm hồn, sự tỉnh giác của
          chính mình.

          Cầu nguyện 21 Lục Độ Mẫu

          · OM JÉ TSUNMA PHAGMA DrOLMALA CHAGTSHEL LO

          OM- Kính lễ Lục Độ Mẫu Bản tôn!

          CHAGTSHEL TARÉ NYURMA PAMO

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Tara Phật Mẫu dũng uy phi thường,

          TUTTARA YI JIGPA SELMA

          TUTTARE đại lực cường

          Bao nhiêu sợ hãi ngài thương giải trừ,

          TURÉ DONKUN JINPÉ DrOLMA

          Âm TURE nghĩa thắng dư

          Mọi điều sở nguyện ban cho toại thành,

          SOHA YIGÉ KHYÖELA DÜEDO

          SOHA hai chữ diệu linh

          Con nay đỉnh lễ rạp mình tán dương.

           

          · NGUYỆN CẦU PHẬT MẪU CỨU ĐỘ TỐC DŨNG TARA

          CHAGTSHEL DrOLMA NYURMA PAMO

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Cứu Độ Tốc Dũng nan nghì Tara

          CHENNI KÉCHING LOGDANG DrAMA

          Hào quang ánh mắt rọi xa

          Như muôn tia chớp tỏa ra sáng ngời

          JIGTEN SUMGON CHU KYÉ SHELGYI

          Thánh Tôn ba cõi lệ rơi

          GÉSAR JÉWA LÉNI JUNGMA

          Hoa sen hóa hiện ngài thời đản sinh.

           

          • · NGUYỆN CẦU PHẬT MẪU BÁCH THU LÃNG NGUYỆT TARA

          CHAGTSHEL TONKEI DAWA KUNTU

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Bách Thu Lãng Nguyệt nan nghì Tara

          GANGWA GYANI TSEGPEI SHELMA

          Tôn nhan, vẻ nguyệt chan hòa

          Tịnh không trần cấu hợp về một nơi,

          KARMA TONGTHrAG TSHOGPA NAMKYI

          Như ngàn tinh tú rạng ngời

          RABTU CHEWEI ÖERAB BARMA

          Uy quang thù thắng muôn loài sánh sao.

          • · NGUYỆN CẦU PHẬT MẪU LAM KIM CỨU ĐỘ TARA

          CHAGTSHEL SERNGO CHHUNÉ KYÉKYI

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Lam Kim Cứu Độ nan nghì Tara

          PADMÖE CHAGNI NAMPAR GYENMA

          Diệu kỳ một đóa liên hoa

          Tay ngài trì giữ rất là trang nghiêm,

          JINPA TSONDrUB KA THUB SHIWA

          Bố thí, giới trì, nhẫn an

          ZÖEPA SAMTEN CHÖEYUL NYIMA

          Tinh tấn, thiền định, tuệ viên mãn đầy

          • · NGUYỆN CẦU PHẬT MẪU NHƯ LAI ĐỈNH KẾ TARA

          CHAGTSHEL DESHIN SHEGPEI TSUGTOR

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Như Lai Đỉnh Kế nan nghì Tara

          THAYÉ NAMPAR GYELWAR CHÖEMA

          Công hạnh siêu thắng hằng sa,

          Sáu ba la mật đã là viên dung,

          MALÜE PHAROL CHINPA THOBPEI

          Các bậc Pháp tử vô song

          GYELWEI SÉ KYI SHINTU TENMA

          Của chư Thắng Giả hết lòng tán dương.

          • · NGUYỆN CẦU PHẬT TARA TỰ MẪU TUTTARE HUNG

          CHAGTSHEL TUTTARA HUNG YIGÉ

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Tara Tự Mẫu TUTTARE HUNG

          DÖEDANG CHOGDANG NAMKHA GANGMA

          Âm thanh viên mãn khôn cùng

          Lòng từ tran trải khắp vùng muôn phương;

          JINTEN DUNPO SHABKYI NENTÉ

          Bảy cõi dưới gót chân sen,

          LÜEPA MÉPAR GUG PAR NÜEMA

          Bi tâm thu nhiếp chấn yên hữu tình.

          • · NGUYỆN CẦU PHẬT MẪU THÍCH PHẠM HỎA THIÊN TARA

          CHAGTSHEL GYAJIN ME LHA TSHANGPA

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Hỏa Thiên Thích Phạm nan nghì Tara

          LUNGLHA NA TSHOG WANGCHUG CHÖEMA

          Phong Thần, Tự Tại chủ thiên

          JUNGPO ROLANG DrIZA NAMDANG

          Hương thơm, nhiều bộ quỷ ma kiếm tìm

          NÖEJIN TSHOGKYI DUNNÉ TÖEMA

          Dạ xoa ma chúng một niềm

          Hân hoan tán thán tôn sùng Tara.

          • · NGUYỆN CẦU PHẬT MẪU TRÁT PHÉT CỨU ĐỘ TARA

          CHAGTSHEL TrAT CHÉJA DANG PHET KYI

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Tara ’TRAT PHET’ uy nghi độ từ,

          PHAROL THrULKHOR RABTU JOMMA

          Chướng ngăn hết thảy không dư

          Do ngài phù hộ giải trừ tiêu tai

          YÉKUM YONKYANG SHABKYI NENTE

          Chân phải co, trái duỗi dài

          MÉBAR THrUGPA SHINTU BARMA

          Trong vầng lửa cháy rực ngời hào quang.

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU TURE PHẪN NỘ TARA

          CHAGTSHEL TURÉ JIGPA CHHENPÖE

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          TURE Phẫn Nộ nan nghì Tara

          DÜE KYI PAWO NAMPAR JOMMA

          Muôn loài oán quỷ hận ma

          Dũng uy hàng phục thời đà chuyển tâm

          CHU KYÉ SHELNI THrO NYER DEN DZÉ

          Mặt sen đượm một từ dung

          DrAWO THAMCHÉ MALÜE SÖEMA

          Mi chau hóa giải mê lầm oan khiên

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU TAM BẢO NGHIỂM ẤN TARA

          CHAGTSHEL KONCHOG SUMTSHON CHAGGYEI

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Tam Bảo Nghiêm Ấn nan nghì Tara

          SORMÖE THUGKAR NAMPAR GYENMA

          Giữa tâm bắt ấn ngón hoa

          MALÜE CHOGKYI KHORLÖE GYENPEI

          Uy nghiêm luân báu nguy nga khắp trời

          RANGGI ÖE KYI TSHOGNAM THrUGMA

          Hào quang thân báu sáng ngời

          Muôn phương chiếu rọi nơi nơi huy hoàng.

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU UY ĐỨC HOAN HỶ TARA

          CHAGTSHEL RABTU GAWA JIPEI

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Uy Đức Hoan Hỷ nan nghì Tara

          WU GYEN ÖE KYI THrENGWÉ PELMA

          Vương miện nghiêm sức chói lòa

          SHÉPA RABSHÉ TUTTARA YI

          Cười vang hoan hỷ TUTTARE tràng

          DÜEDANG JINTEN WANGDU DZÉMA

          Các loài ma quỷ thế gian

          Ngài thời nhiếp phục quy hàng chuyển tâm

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU THỦ HỘ CHÚNG ĐỊA TARA

          CHAGTSHEL SASHI KYONGWEI TSHOGNAM

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Thủ Hộ Chúng Địa nan nghì Tara

          THAMCHÉ GUGPAR NÜEMA NYIMA

          Uy lực triệu bách thần ra

          THrO NYER YOWEI YIGÉ HUNG GI

          Chau mày dao động hiện là chữ Hung

          PHONGPA THAMCHÉ NAMPAR DrOLMA

          Muộn phiền đau khổ bần cùng

          Ngài đều phổ độ mọi vùng chúng sinh

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU ĐỈNH QUAN NGUYỆT TƯỚNG TARA

          CHAGTSHEL DAWEI DUMBÜE WU GYEN

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Đỉnh Quan Nguyệt Tướng nan nghì Tara

          GYENPA THAMCHÉ SHINTU BARMA

          Vương miện diệu thắng chói lòa

          RELPEI THrÖENA ÖE PAGMÉ LÉ

          Ở nơi búi tóc Di Đà hiện sinh

          TAGPAR SHINTU ÖERAB DZÉMA

          Từ đó phóng chiếu quang minh

          Đủ bao diệu bảo hữu tình lợi tha.

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT NHƯ TẬN KIẾP HỎA TARA

          CHAGTSHEL KELPEI THAMEI MÉTAR

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Như Tận Kiếp Hỏa nan nghì Tara

          BARWEI THrENGWEI WÜENA NÉMA

          Trong búi tóc, lửa kiếp không

          YÉ KYANG YONKUM KUNNÉ KORGEI

          Chân phải thẳng duỗi, gập cong chân này

          DrAYI PUNGNI NAMPAR JOMMA

          Những bầy oán địch quân cai

          Ngài đều tận diệt chẳng sai chút nào.

          • ·
          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU THỦ ÁN ĐẠI ĐỊA TARA

          CHAGTSHEL SASHII NGÖELA CHAGGI

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Thủ Án Đại Địa nan nghì Tara

          THILGYI NUNCHING SHABKYI DUNGMA

          Giẫm chân trấn yểm hàng ma

          THrO NYER CHEN DZÉ YIGÉ HUNGGI

          Mày chau phẫn nộ hiện là chữ Hung

          RIMPA DUNPO NAMNI GEMMA

          Bảy hiểm nạn, mọi tai ương

          Ngài thời hàng phục yêu thương hộ trì.

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU AN THIỆN TĨNH TỊCH TARA

          CHAGTSHEL DÉMA GÉMA SHIMA

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          An Thiện Tĩnh Tịch nan nghì Tara

          NGA NGEN DÉSHI CHÖEYUL NYIMA

          Niết bàn tịch diệt an hòa

          SOHA OM DANG YANGDAG DENPÉ

          SOHA – OM chữ thật là tương ưng

          DIGPA CHENPO JOMPA NYIMA

          Biết bao tai họa quá chừng

          Ngài khéo cứu độ tiêu dừng nạn tai.

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU PHỔ BIẾN CỰC HỶ TARA

          CHAGTSHEL KUNNÉ KORRAB GAWEI

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Phổ Biến Cực Hỷ nan nghì Tara

          DrAYI LÜENI RABTU GEMMA

          Trái Phật Pháp oán lìa xa

          YIGÉ CHUPEI NGAGNI KÖEPEI

          Chân ngôn mười chữ rất là linh thiêng

          RIGPA HUNG LÉ DrOLMA NYIMA

          Âm thanh minh chú chữ HUNG

          Vang xa khắp chốn tận cùng mười phương.

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU TURE ĐỐN TÚC TARA

          CHAGTSHEL TUREI SHABNI DABPÉ

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          TURE Đốn Túc nan nghì Tara

          HUNGGI NAMPEI SABON NYIMA

          Từ chữ HUNG ngài hiện ra

          RIRAB MENDAHRA DANG BIGJÉ

          Mạn đà la với Bảo Đà, Tu Di

          JIGTEN SUMNAM YOWA NYIMA

          Đến như ba cõi muôn nơi

          Làm cho chấn động đất trời chuyển rung

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU CỤ HẢI THÂM TƯỚNG TARA

          CHAGTSHEL LHAYI TSHOYI NAMPEI

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Cụ Hải Thâm Tướng nan nghì Tara

          RIDAG TAGCHEN CHAGNA NAMMA

          Dấu Nai thiêng trong tay hoa

          TARA NYIJÖE PHET KYI YIGE

          TARA với PHET tụng trì luôn luôn

          DUGNAM MALÜE PANI SELMA

          Độc kia các chất muôn vàn

          Ngài năng diệt tận không còn sót dư.

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU CHƯ THIÊN VÂN TẬP TARA

          CHAGTSHEL LHAYI TSHOGNAM GYELPO

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Chư Thiên Vân Tập nan nghì Tara

          LHADANG MI AM CHIYI TENMA

          Là nơi quy kính an hòa

          Chư thiên nơi cõi Ta Bà phi thiên

          KUNNÉ GO CHAG GAWEI JI KYI

          Đức uy, hỷ duyệt, giáp kiên

          TSÖEDANG MILAM NGENPA SELMA

          Đấu tranh, ác mộng thảy liền tiêu tan.

           

          • · CẦU NGUYỆN PHẬT MẪU NHẬT NGUYỆT QUẢNG VIÊN TARA

          CHAGTSHEL NYIMA DAWA GYÉPEI

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Quảng Viên Nhật Nguyệt nan nghì Tara

          CHENNYI POLA ÖERAB SELMA

          Hào quang ánh mắt chói lòa

          HARA NYIJÖE TUTTARA YI

          HARA hai biến, TUTARE trì,

          SHINTU DrAGPOI RIMNÉ SELMA

          Bao tật bệnh, mọi độc dư

          Ngài đều thiện xảo giải trừ độ sinh.

          • · NGUYỆN CẦU PHẬT MẪU CỤ TAM BẢO TƯỚNG TARA

          CHAGTSHEL DÉ NYI SUMNAM KÖEPÉ

          Chí thành đỉnh lễ quy y

          Cụ Tam Bảo Tướng nan nghì Tara

          SHIWEI THUDANG YANGDAG DENMA

          Thiện tịnh uy lực chan hòa

          Diệt tan hiểm họa, ma tà, ách tai

          DONDANG ROLANG NÖEJIN TSHOGNAM

          Dạ xoa con quỷ khởi bày

          Ngài đều nhiếp phục chẳng chừa một ai

          JOMPA TURÉ RABCHOG NYIMA

          Chữ TURE, thật là đây

          Chú thiêng siêu thắng ách tai tận trừ.

          TSAWEI NGAGKYI TÖEPA DIDANG

          Căn bản minh chú bản tôn,

          CHAGTSHEL WANI NYISHU TSACHIG

          Tara hăm mốt Hóa thân các ngài

          Tâm thành trì tụng lễ bày

          Muôn lời tán thán thời nay viên tròn.

           

          Drukpa Việt Nam

          Đánh giá

          Leave a Comment

          Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

          Scroll to Top