Đi Tìm Nơi An Táng Của Thi Hào Nguyễn Du Tại Huế

ĐI TÌM NƠI AN TÁNG
CỦA THI HÀO NGUYỄN DU TẠI HUẾ

Hồ Đắc Duy

LTS:
Đại thi hào Nguyễn Du, một người am tường Phật học từng
“đọc kinh Kim Cương hơn ngàn lần” (Ngã độc Kim Cương
thiên
biến linh) đã để lại cho đời một di sản văn học
to lớn. Nghiên cứutìm hiểu về cuộc đời ông để học
tập cũng như để tỏ lòng tri ân của hậu thế là điều
nên làm. Hiện chưa ai biết chính xác nơi an táng thi hào tại
cánh đồng Bầu Đá, An Ninh, Phú Xuân. Nhà nghiên cứu Hồ
Đắc Duy đã có công trình “Đi tìm nơi an táng của thi hào
Nguyễn Du tại Huế” thuyết trình ngày 16-11-2008 tại Cung
Văn hóa Lao động TPHCM. Trân trọng giới thiệu công trình
này đến với bạn đọc… GN 

Năm
1806, vua Gia Long cho mời Nguyễn Du ra làm quan ở kinh
đô, phong tước Du Đức Hầu, giữ chức Đông Các Học
; năm 1809, làm Bố Chính tỉnh Quảng Bình; tháng 2 năm 1813,
Nguyễn Du được thăng Cần Chánh Điện Học Sĩ, rồi có chỉ
sai làm Chính sứ đi Trung Hoa và năm 1815 ông trở về Kinh được
thăng Lễ Bộ Hữu Tham Tri. Nguyễn Du mất ngày mồng 10 tháng
8 âm lịch tức ngày 16-9-1820 trong một cơn đại dịch, hưởng
dương 56 tuổi.

Khi
ông mất có em là Nguyễn Ức và cháu là Nguyễn Thảng, con
Nguyễn Khản, đang làm quan ở Phú Xuân bên cạnh. Ông được
an táng ở cánh đồng Bầu Đá, xã An Ninh, Phú Xuân.

Cháu
của ông là Nguyễn Hành bấy giờ ở Bắc Thành được tin
ông mất, có làm thơ khóc chú và nói lên cái chết nhanh chóng
bi thảm đến với ông :

Dịch
lệ hà năng tốc công tử?


Tam
thu xuân lạc thử thành trung…


(Bệnh
dịch sao có thể làm chú chết mau đến thế? Ba năm lưu lạc
ở thành này).

Bảo
tàng
Nguyễn Du, Hà Tĩnh

Đến
mùa hè năm Giáp Thân (1824), con trai ông là Nguyễn Ngũ đem
hài cốt của cha về táng ở quê nhà, xứ Đồng Mát, nơi
vườn cũ của ông ở lúc sinh thời, thuộc xóm Tiên Giáp (nay
đổi là Tiên Mỹ). Năm 1928, cải táng sang xóm Đồng cùng
ở xóm Tiên An, cách làng 2 cây số về phía Đông Nam trên
một bãi cát hẻo lánh. Con cháu có dựng một ngôi nhà thờ
ở vườn cũ. Năm 1940, hội Khai Trí Tiến Đức có quyên tiền
xây một ngôi nhà thờ gạch, lợp ngói, mặt trước có gạch
kẻ hoa, chính giữa đề 4 chữ “Nhân kiệt địa linh”. Hai
cột hai bên có câu đối Nôm:

Khúc
đâu lưu thủy hành vân để tiếng tài tình chung đất nước/ 


Chốn
ấy san hồ cổ thụ nhớ người thanh khí nặng non sông.

Tháng
7 năm 1954, chiến tranh phá hủy ngôi nhà thờ này.

Như
vậy Nguyễn Du được an táng lần đầu vào năm 1820 ở cánh
đồng Bầu Đá, An Ninh, Phú Xuân. Cải táng lần thứ nhất
năm 1824 về xứ Đồng Mát, cải táng lần thứ hai năm 1928
về xóm Đồng trên một bãi cát hẻo lánh ở Tiên Điền,
Nghi Xuân, Hà Tĩnh.


lý do gì mà gia đình và các hậu duệ của ông phải cải
táng ông nhiều lần như vậy hay đó là di chúc của người
thiên cổ? Sau mỗi lần cải táng có xảy ra biến cố gì không,
đặc biệt là lần cải táng sau cùng vào năm 1928?

Một
trăm lẻ bốn năm sau người ta lại cải táng lần thứ hai.
Ai là người đã đưa ra ý kiến đó và các người có trách
nhiệm
nghiên cứu kỹ về ngôi mộ đầu tiên của ông
ở cánh đồng Bầu Đá hay chưa? Phải giải thích cho giòng
họ như thế nào để thuyết phục mọi người chấp nhận
hay là chỉ vướng mắc một vấn đề tế nhị.

Huyện
Nghi Xuân là một vùng đất có nhiều nhân tài khoa bảng, đặc
biệt
là quê hương của ông tổ ngành phong thủy địa lý
Việt Nam: Tả Ao.

Mộ
thi hào Nguyễn Du tại Nghi Xuân, Hà Tĩnh

Vậy
việc cải táng này có điều gì bí ẩn không?

Trước
khi khảo sát và xác định trên thực địa mộ táng của Nguyễn
Du tại Huế, chúng tôi phải tìm hiểu thời gian ông sống
hơn 12 năm cuối đời từ 1806-1820 ở Phú Xuân. 
Chúng
tôi
phải sưu tra lại các vấn đề địa lý, hình thể và
phát triển của vùng đất Thuận Hóa-Phú Xuân đồng thời
tái tạo lại nó một cách có thể chấp nhận được bằng
đồ họa trên máy tính, phải đối chiếu thực tế trên mặt
đất với các bức không ảnh chụp từ vệ tinh của các chương
trình
Google Map Satellite, World Map, Earth… với nhiều độ phóng
đại để có thể hình dung vùng đất này, nhất là vùng thượng
nguồn của các con sông (Bạch Yến (Catu), sông Lấp, vùng An
Đô, La Chữ, Kim Long, Kẽ Vạn, Xước Dũ, Eo Bầu, Nham Biều,
Giáp Hạ, Linh Mụ, Chợ Thông…và đặc biệt hình thể vùng
núi đá và các khoảng ruộng ở An Ninh thượng, hạ và cánh
đồng Bầu Đá nơi an táng lần đầu tiên của Nguyễn Du. 

Bầu
Đá là một cánh đồng nằm ở phía Tây Bắc thành phố Huế
(nay thuộc Lựu Bảo-An Ninh Thượng, huyện Hương Trà, tỉnh
Thừa Thiên). Cánh đồng Bầu Đá là một thung lũng, một vùng
lòng chảo, bao quanh 3 mặt là rú đá, riêng phía Tây hở chạy
thẳng đến núi An Đô, dựa lưng vào dãy Trường Sơn. 

Bầu
Đá cách kinh thành Huế về phía Tây khoảng 8km đường chim
bay, sau lưng đồi Hà Khê – chùa Linh Mụ, qua bên kia sông Bạch
Yến có một vùng núi đá thấp thường gọi là Rú Đá. Quần
thể rú Đá gồm các ngọn đồi thấp dưới 30m. Có một đoạn
các ngọn rú Đá này chạy liên kết nhau tạo thành ¾ một
vòng tròn. 


Đá còn gọi là rú Bầu Đá, rú Kèo Đá, rú Vi, rú Ri thuộc
địa giới vùng Lựu Bảo. Rú có chiều dài khoảng 500m. Thung
lũng nhỏ dưới chân rú là cánh đồng Bầu Đá, nay còn có
tên là Bầu Sắn (Bàu Sắn) với đường kính khoảng gần
1km, trên cánh đồng nổi lên một cái cồn nhỏ. 

Trên
đỉnh và lưng chừng rú Bầu Đá có vô số ngôi mộ chôn
cất san sát nhau. Có những ngôi mộ rất cổ, có cả nghĩa
trang của các nhà thờ Thiên Chúa giáo, duy chỉ có trên cánh
đồng Bầu Đá nổi lên một cái cồn nhỏ cô đơn. Nếu đi
từ cầu Xước Dũ lên đến đỉnh rú Bầu Đá khoảng 3km. 

Nơi
an táng Nguyễn Du trên cánh đồng Bầu Đá nay không còn một
dấu vết nào. Có chăng chỉ còn một ruộng lúa xanh mướt
trải dài, một luống bắp đang trổ cờ, một tiếng gió rít
qua kè đá… “Dấu giày từng bước in rêu rành rành”. Ở
giữa cánh đồng này hiện nay chỉ có một ngôi mộ độc
nhất của vị thượng thư họ Hoàng. 

Vị
trí
ngôi mộ của ông thượng thư họ Hoàng như sau: Phía chính
Tây là núi An Đô đồ sộ, phía sau dãy Trường Sơn hùng vĩ,
phía Đông gác chân lên rú Đá thấp hướng ra biển. Tả hữu
là 2 ngọn núi thấp có dáng dấp Thanh Long, Bạch Hổ, có một
mạch
nước phía trước. Theo thuật phong thủy gọi là “tích
phúc tụ thủy” nghĩa là “lấy lộc cho cháu con”. Chung
quanh mộ có rú Đá thấp bao bọc, đó là thế đất tốt,
có núi làm bình phong, có mạch nước minh đường thủy tụ…
Một địa huyệt mà bất cứ thầy địa lý nào cũng mơ tưởng
như trong lý thuyết

Thượng
thư Hoàng Hữu Thường người xã Quảng Tế, huyện Hương
Thủy
, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1873 đỗ Giải Nguyên, năm 1875
đỗ Tiến sĩ, năm 1882 ông cùng với Khâm sai Trần Đình Túc
thương thuyết với quân Pháp. Thời vua Đồng Khánh, ông làm
Thượng thư bộ Công, Hiệp Biện Đại Học Sĩ. Ông mất vào
tháng 12 năm 1887, an táng tại cánh đồng Bầu Đá.

Đã
là Thượng thư bộ Công, làm quan trải qua 6 đời vua (Tự
Đức, Dục Dức, Kiến Phúc, Hiệp Hòa, Hàm Nghi, Đồng Khánh)
là người đứng đầu cơ quan chuyên xây cất lăng tẩm, miếu
mạo… hẳn ông là người học vấn uyên thâmthông thạo
về thuật phong thủy địa lý hơn ai hết. Vậy thì khi chọn
cho mình một nơi yên nghỉ ngàn năm tất phải phù hợp với
sở học, phải nghĩ tới tiền đồ của con cháu, dòng họ
ước mơ của mình.

Mộ
Thượng thư Hoàng Hữu Thường tại cánh đồng Bầu Đá

Nói
về ngôi địa huyệt của quan Thượng thư bộ Công và cánh
đồng Bầu Đá thuộc vùng An Ninh Thượng, về sau này và trước
đó còn có rất nhiều bí ẩn cần phải giải mã. Như chuyện
con Ma Ơi và cái Lỗ Sứt, những chuyện thảm khốc chung quanh
việc cải táng ngôi mộ của quan đại thần… các bạn có
thể tìm hiểu thêm nơi bà Hồ Thị Sâm 75 tuổi là người
đang giữ mộ của Thượng thư họ Hoàng.

Trước
khi đi tìm nơi chôn cất đầu tiên của Nguyễn Du chúng tôi
nghiên cứu thêm về thời gian Nguyễn Du sống tại Huế
như địa chỉ nhà của ông ở đâu? Ông bị bệnh gì mà chết,
căn bệnh đó có ảnh hưởng đến vệ sinh môi trường hay
không? Dự đoán khoảng cách từ nhà ở đến chỗ an táng
bao xa? Qua các sử liệu có độ tin cậy cao nhất ví dụ
như địa chỉ nhà ở của Nguyễn Du qua bài thơ Ngẫu Hứng
là ở xóm dệt vải ở vương đảo Kim Long, bệnh án tử vong
của Nguyễn Du qua bài điếu văn của Nguyễn Khản, cháu gọi
ông bằng chú ruột, tình trạng lây lan của căn bệnh ở thời
điểm đó trong Quốc Triều Chính Biên Toát Yếu và bài Khóc
Nguyễn Du của Xuân Hương… 
Về
nguyên tắc khi chọn một địa huyệt để an táng:

Phải
chọn được cảnh đẹp, phải là nơi cao ráo, hậu chẫm phải
được che chắn, trước mặt phải có mạch nước có bình
phong, tả hữu phải được bảo vệ…

Nếu
không
có được điều kiện ấy thì phải xem tuổi tác, ngày
giờ chết, nhân thân của người chết hay người thân của
người đó…

Mộ
táng của quan Đại thần Thượng thư bộ Công đáp ứng với
các điều kiện căn bản đó, đó là địa huyệt thuộc loại
Lôi trạch quy muội (Gái về nhà chồng – nghĩa là mang theo
của cải tiền bạc, mang theo sung mãn con cái làm ăn phát tài,
danh vọng…), Tọa đoài hướng chấn (Đầu người chết về
hướng Tây chân gác trên rú thấp về hướng Đông), Triều
sơn
 (núi quy tụ về một chỗ).

Quan
sát
mộ táng của vị Thượng thư bộ Công mới thấy hết
cái sở học uyên thâm của ông về khoa địa lý và phong thủy
khi chọn địa huyệt là chỗ dung thân ngàn năm.

Ngôi
mộ của ông, một địa huyệt mà bất cứ thầy địa lý
nào cũng mơ tưởng như trong lý thuyết.

Để
xác định tọa độ nơi người ta chôn cất nhà thi sĩ nhất
mực tài hoa này, chúng tôi đã:

– Khảo
sát thực địa, xác định vùng xã An Ninh, vùng cánh đồng
Bầu Đá và tọa độ ngôi địa huyệt.

– Riêng
về tọa độ ngôi địa huyệt là vấn đề thuộc chuyên môn
sâu hơi khó khăn.

Chúng
tôi
cho mời 10 nhà phong thủy địa lý đến hiện trường
ở những thời điểm khác nhau, họ mang theo la bàn và dụng
cụ đo đạc chuyên môn để chỉ trả lời cho chúng tôi một
câu hỏi duy nhất: Trên cánh đồng nhỏ bé này, chỗ nào là
địa huyệt lý tưởng? Chín trên mười các nhà phong thủy
đều có cùng một đáp số: 16027’31.41″ vĩ Bắc, 107032’8.66″
kinh Đông.

Chúng
tôi
kiểm tra lại trên bản đồ không ảnh của Google Earth,
tọa độ đó trùng hợp với mộ của quan Đại thần Thượng
thư bộ Công Hoàng Hữu Thường.


thể giải thích một cách đơn giản là 67 năm sau khi Nguyễn
Ngũ cải táng cha mình thì tọa độ đó chỉ còn là một bãi
đất trống và quan Đại thần Thượng thư bộ Công là người
đã nhìn thấy long mạch ở đó.

HỒ
ĐẮC DUY

Đánh giá

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to Top