Công Chúa Long Thành – Từ Chính Sử Đến Giai Thoại

CÔNG CHÚA LONG THÀNH
TỪ CHÍNH SỬ ĐẾN GIAI THOẠI
Nghi Thủy

LTS: “Chuyện tình của công chúa
triều Nguyễn với một nhà sư”, “Chuyện tình của Hòa thượng Liên HoaCông chúa
Long Thành”… những bài viết đại loại như vậy đăng trên nhiều trang tin, báo
điện tử trong và ngoài nước với sự thêu dệt, thêm thắt các tình tiết lâm ly bi
đát
trong cố gắng “lạ hóa”, do đó đã làm sai lệch lịch sử. Nguồn cơn của sự
việc trên, các tài liệu chính sử đã viết gì về hai nhân vật chính này như thế
nào… GN giới thiệu cùng độc giả bài khảo cứu kết hợp điền dã của tác giả Nghi
Thủy về vấn đề này.

1.

Long Thành công chúa Ngọc Tú, sanh
ngày mồng 3 tháng Chạp năm 1759, mất mùa đông năm Quý Mùi (Minh Mạng thứ 4,
1823), trưởng nữ của Hưng Tổ Hiếu Khương hoàng đế (Nguyễn Phước Côn) (1)
và bà nguyên phối Nguyễn Thị Hoàn (2). Bị quyền thần Trương Phúc
Loan hãm hại, Nguyễn Phước Côn mất sớm, bà cùng 4 người con phải sống trong
cảnh cơ hàn. Năm Giáp Ngọ [1774], họ Trịnh đánh vào Phú Xuân, Tây Sơn truy
đuổi, Nguyễn Phước Ánh mới 15 tuổi theo chúa Định vương Nguyễn Phước Thuần vào
Nam. Mấy mẹ con phải về quê ngoại ở làng An Do (Quảng Trị) lánh nạn, lưu lạc
trong dân dã. Đến khi chúa Nguyễn Phước Ánh về Gia Định được tôn lên ngôi Đại
nguyên soái (1779), lãnh đạo khởi nghĩa, sai cai cơ Lê Phước Điển bí mật vượt
biển ra đón cung quyến vào Nam. Tưởng thưởng công lao, Nguyễn Ánh gả chị gái là
Công chúa Ngọc Tú cho Lê Phước Điển.

Năm Quý Mão [1783], Nguyễn vương
đóng quân ở hòn Điệp Thạch (hòn Đá Chồng), tướng Tây Sơn là Phan Tiến Thận đang
đêm
đem quân tập kích. Tình thế cấp bách, Lê Phước Điển xin mặc áo ngự, đứng
đầu
thuyền, còn vương xuống thuyền nhỏ chạy thoát ra đảo Côn Lôn. Điển cùng các
bộ tướng bị bắt. Tây Sơn dụ hàng, Điển không khứng chịu, chửi mắng không ngớt,
bị giết. Công chúa Ngọc Tú còn trẻ, góa bụa, nhưng cảm nghĩa không chịu tái
giá. Thường nói, “Điển làm tôi còn biết tử tiết, ta là vợ người sao dám có chí
khác. Bao giờ lấy lại kinh đô cũ, ta nên xuất gia thờ Phật thôi” (3).
Nguyễn vương rất cảm kích, khen có chí. Diệt xong nhà Tây Sơn, bà theo vua về
Phú Xuân.

Gia Long năm thứ nhất, vua lập phủ
đệ cho bà ở phường Cam Thụy. Bà nhiều lần xin cắt tóc xuất gia nhưng vua không
đồng ý. Trước khi mất, ốm nặng, Thánh tổ (Minh Mạng) đến thăm, bà khóc mà nói
rằng: “Cắt tóc đi tu để thờ Phậtchí nguyện bình sinh, lòng ấy chưa được
thỏa, xin bệ hạ cho được trọn nguyện. Sau khi tôi chết, xin đừng để tóc, khâm
liệm bằng áo cà sa, tôi ở dưới chín suối cũng được mãn nguyện” (4) .
Vua cảm động lắm, bèn đem bàn với Kiến An công Nguyễn Phước Đài, Đài tâu: “
Thân thể tóc da là của cha mẹ cho, lúc sống phải giữ toàn, chết về cũng phải để
toàn, thế là lễ vậy. Bệ hạ trị thiên hạ, nên theo chính đạo bỏ dị đoan, điều
chúa muốn không nên theo” (5). Vua cho là phải bèn sai Diên Khánh
công Nguyễn Phước Tấn với Bộ Lễ trị tang. Vua nghỉ chầu 5 ngày, lập đàn tứ tế,
ban tặng thụy hiệu Long Thành thái trưởng công chúa, thụy Trinh Tĩnh. Vì công
chúa
không con, nên lập Thường Tín công Nguyễn Phước Cự làm thừa tự.

 

Tháp mộ của Công chúa được lập trong
khuôn viên lăng Gia Long (lăng Thiên Thụ),
nay thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương
Trà, Thừa Thiên Huế

Tháp mộ của Công chúa được lập trong
khuôn viên lăng Gia Long (lăng Thiên Thụ), nay thuộc xã Hương Thọ, huyện Hương
Trà, Thừa Thiên Huế. Năm sau, Giáp Thân [1824] Minh Mạng thứ 5, theo di huấn
của Thế Tổ (Gia Long), “Chị ta là trưởng Công chúa Ngọc Tú thờ mẹ trọn đạo làm
con, lúc gian khổ giữ trọn trinh tiết, đức tốt như ngọc uyển, ngọc diễm để thơm
về sau, vậy để sẵn vị thờ ở gian tả nhất tẩm điện làm chỗ ngày sau phụ hưởng.” (6),
bà được phụ thờ ở điện lăng Thụy Thánh.

Ngày nay, tháp mộ của Công chúa Long Thành còn nguyên vẹn,
được chăm sóc khá kỹ lưỡng. Trên đường vào quần thể lăng Hoàng đế Gia Long,
trước đó chừng 300m, rẽ phía phải, men theo con đường gạch nhỏ rợp bóng cây, sẽ
gặp một ngôi cổ tháp rêu phong có la thành bao bọc, thường được gọi lăng Hoàng
Cô (theo cách dân địa phương). Đây là một lăng mộ hết sức đặc biệt, thường dễ
gây nhầm tưởng với tháp táng của một tu sĩ Phật giáo. Tháp (7) 4
tầng có 2 vòng thành. Vòng thành trong dài 15m, rộng 9m, cao 1,5m, trổ cửa phía
trước, có bình phong và một tấm bia đá dựng năm 1838 khắc danh hiệu “Long Thành
thái trưởng Công chúa thụy Trinh Tĩnh chi tháp”. Vòng la thành có chiều dài
24,6m bao quanh một cửa chính phía trước lối cuốn tò vò bên trên trang trí hình
hoa sen Phật giáo. (8)

2.

Rõ ràng, qua nguồn sử liệu khả tín,
cùng với khảo cứu chi tiết của của L. Cadière, chúng ta dễ dàng rút ra ở đây
mấy ghi nhận: 1. Long Thành công chúa Ngọc Tú là một bà chúa có địa vị quan
trọng đầu thời nhà Nguyễn. 2. Bà là một Phật tử đặc biệt.

Với vai trò là chị cả, cùng mẹ với
Thế Tổ Gia Long, bà đã cùng gia đình hoàng gia trải qua nhiều cam go, khổ nạn
từ khi Gia Long dấy nghiệp cho đến lúc lấy được giang sơn. Bản thân bà chịu
thiệt thòi vì cảnh góa bụa từ lúc còn son trẻ nhưng đã rất hiếu đạo tiết liệt,
một lòng thủy chung son sắt. Điều này đã làm hoàng gia cảm động, hai vị hoàng
đế
đầu thời nhà Nguyễn (Thế Tổ, Thánh Tổ) đã dành cho cho bà nhiều sự quan tâm
ưu ái. Sự kiện bà được đưa vào phối tự ở điện Thụy Thánh bên cạnh Hoàng hậu
Hiếu Khang là một biệt lệ. (9)

Tháp mộ của Công chúa Long Thành còn nguyên vẹn,
được chăm sóc khá kỹ lưỡng

Thời gian ở miền Nam bà cùng hoàng
gia
đã có mối quan hệ mật thiết với những cao tăng đang hoằng hóa tại Nam Bộ
như các ngài Phật Ý Linh Nhạc, Tổ Tông Viên Quang, Tổ Ấn Mật Hoằng, Tiên Giác
Hải
Tịnh… và đặc biệt với Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt. Có thể bà đã quy y
thọ tại gia Bồ-tát giới với ngài Liễu Đạt và được ban pháp danh Tế Minh, hiệu
Thiên Nhựt (10). Từ đó, bà vâng lời bổn sư ủng hộ trùng tu các tổ
đình thuộc môn phái của Tổ sư Nguyên Thiều, như chùa Từ Ân (Gia Định), Quốc Ân
(Thừa Thiên Huế). Theo L. Cadière, (11) “ Sự trùng tu chùa Quốc Ân
liên quan đến Công chúa triều Nguyễn, bà chị cả cùng mẹ với vua Gia Long, là
Công chúa Ngọc Tú, hay Long Thành công chúa… Ở góa chồng lúc còn trẻ và không
con, công chúa không muốn tái giá. [Khi còn ở Gia Định] Bà thường đến lễ ở chùa
Từ Ân, vị sư trụ trì Liên Hoa hay là Thiệt Thành, hay Liễu Đạt khuyên bà cần
giữ đúng Ngũ giới (năm điều cấm) và Tam quy (3 điều theo)… Ông khuyên bà công
chúa
khi có dịp trở lại Huế thì nên nhớ đến chùa Quốc Ân. Bà trở về Huế với em
mình vào năm 1801 và mất năm 1823, thọ 65 tuổi.

Năm 1805, bà có giao cho hai vị đại
Trí Hải và Chính Văn trùng tu chùa Quốc Ân, và lập một đoàn thể Tăng chúng.
Nhân đó, bà cúng 300 quan tiền… Vì thế tên của ngài Liễu ĐạtCông chúa Long
Thành được ghi một cách trang trọng trong sổ công đức của chùa.

Người ta còn giữ được ở chùa 5 bức
chân dung (12). Các chân dung được đặt ở bàn thờ dành cho các đại sư
đã từng tu ở chùa, trong đó có chân dung của ngài Liễu Đạt, còn gọi là Liên
Hoa”.

Về tiểu sử, hành trạng của Thiền sư
Thiệt Thành Liễu Đạt, hiện không tìm thấy trong chính sử hoặc tài liệu nào ghi
chép. Căn cứ theo kệ truyền thừa, niên đại của Công chúa Long Thành và thời
gian
hoằng hóa cùng mối quan hệ với các ngài Phật Ý Linh Nhạc (1725-1821), Tổ
Tông
Viên Quang (1758-1827), Tổ Ấn Mật Hoằng (1735-1835), chỉ có thể ước đoán
ngài sống vào khoảng 1730 đến 1823, thuộc dòng Lâm Tế, đời thứ 35. Tức vào hàng
đệ tử của Thiền sư Minh Vật Nhất Tri (?-1786), đồ tôn của Tổ sư Nguyên Thiều
Siêu Bạch (1648-1728). Không loại trừ khả năng ngài là người gốc Minh Hương như
phần nhiều các thiền sư hoằng hóa tại Nam Bộ thời đó. (13)

Vì thế, những mô tả về hình thức (có hảo tướng, biện tài),
cũng như hành trạng (Được phong làm Tăng cang chùa Thiên Mụ, được mời vào cung
giảng
pháp, được vua ban hiệu là Liên Hoa v.v.) của Thiền sư Thiệt Thành Liễu
Đạt
được một số tác giả nêu ra trong một số bài báo và công trình nghiên cứu (14),
rất tiếc cho đến nay vẫn chỉ là những ý kiến chủ quan dựa trên truyền thuyết,
chưa thể khảo chứng được. 

 

Bia đá nơi tháp mộ công chúa Long Thành dựng năm 1838
khắc danh hiệu “Long Thành
thái trưởng Công chúa thụy Trinh Tĩnh chi tháp”

3.

Trong
cuốn sách Lịch sử Phật giáo Đàng Trong (LSPGĐT) của Nguyễn Hiền Đức do
Nhà Xuất bản Tổng Hợp TP.HCM ấn hành năm 1995 ở chương XI, tiết 2, trang
231-235: Hòa thượng Liên Hoa (1759-1823) (phái thiền Lâm Tế, đời 35) hay
Thiền sư Thiệt Thành-Liễu Đạt
đã hư cấu toàn bộ cuộc đời của Thiền
Thiệt Thành Liễu Đạtcông chúa Long Thành. Điều đáng nói, đây là một cuốn
sách về lịch sử Phật giáo nhưng tác giả đã không dựa vào chính sử và các sự
kiện
lịch sử mà thay vào đó là những ghi chép tùy tiện đầy tính chủ quan. Tác
giả
cứ hồn nhiên kể chuyện, sáng tạo tuồng tích lâm ly như chính tác giả
người trong cuộc tai nghe mắt thấy. Ngay từ khi cuốn sách ra đời đã đón nhận
những ý kiến phê bình góp ý, tuy nhiên không nhận được bất kỳ phản hồi nào từ
phía tác giả. Do đó, những sai lầm này vẫn cứ mặc nhiên tồn tại, và khi được
các tác giả khác dẫn dụng, đã tiếp tục nối dài cái sai lầm của Nguyễn Hiền Đức.
Xin tóm lược 2 chi tiết, theo Nguyễn Hiền Đức, Hòa thượng Thiệt Thành-Liễu Đạt
là người có tướng hảo quang minh, có tài thuyết pháp nên được nhiều người hâm
mộ
, đặc biệt với hoàng gia nhà Nguyễn. Thời gian ở hoằng hóa ở chùa Từ Ân, Gia
Định, ngài đã có mối quan hệ tốt với hoàng gia, trong đó có Trưởng công chúa
Long Thành. Năm Đinh Sửu (Gia Long 16, 1817), Thế Tổ thỉnh ngài Liễu Đạt ra Phú
Xuân làm Tăng cang chùa Thiên Mụ, trong thời gian này hàng tháng ngài còn được
mời vào cung để thuyết pháp cho thái hậu, phi tần v.v… và được vua ban tặng
danh hiệu là Liên Hoa… Từ đó nảy sinh “mối tình cảm luyến ái sâu đậm” với Công
chúa
Long Thành. Do công chúa quá si mê, có ý ràng buộc nên ngài phải tìm cách
trở về Gia Định để thoát khỏi dây tình
ái
hồng trần. Nhưng bà chúa si tình (năm này đã 65 tuổi!) nào dễ buông tha ngài.
Tháng 10, năm 1823, nhân cớ vâng lệnh vua Thánh Tổ cúng dường chùa Khải Tường,
công chúa đã bôn ba vào tận Gia Định để tìm ngài! Biết tin, ngài vội dời về
chùa Đại Giác ở Biên Hòa để nhập thất lánh nạn. Không dễ bỏ cuộc, bà theo về
chùa Đại Giác. Ngài lánh mặt không tiếp, bà quỳ ngoài cửa phòng ngài mà thỉnh
cầu
rằng nếu không được gặp thì bà chỉ xin được thấy bàn tay ngài là mãn
nguyện
. Đáp ứng lời thỉnh cầu của bà chúa, ngài đã thò một bàn tay ra khỏi cửa.
Bà chúa vội ôm bàn tay ngài hôn một cách trìu mến, lạy ba lạy rồi khóc sướt mướt! (sic). Đêm đó, ngài Liên
Hoa
, viết một bài kệ (bài kệ này nội dung và ngôn ngữ không khả tín nên tôi
không trích ra đây) lên vách rồi nổi lửa tự thiêu. Sau khi tổ chức tang lễ cho
ngài Liên Hoa, bà chúa Long Thành cũng uống thuốc độc tự tử ở hậu liêu chùa Đại
Giác
(2-11-1823).
Chưa hết, sau khi chết, long vị của bà được thỉnh về thờ
ở gian bá tánh chùa Từ Ân, nhưng vì duyên nghiệp tình ái quá nặng bà đã không
siêu thoát mà quậy phá làm nội bộ chùa xáo trộn. Các vị cao tăng họp bàn đem
long vị của bà vào thờ ở chánh tẩm của tổ đường, bên cạnh long vị của Hòa
thượng
Liên Hoa, sự việc mới yên (!).

Không
rõ ông Nguyễn Hiền Đức nghe ở ở đâu, đọc sách nào để rồi dụng công soạn nên một
câu chuyện tình lâm ly bi đát đậm mùi “Lan và Điệp” về hai con người có thật
được ghi chép kỹ lưỡng trong chính sử như trên. Người đọc sẽ không khỏi băn
khoăn rằng, đây có phải là một công trình nghiên cứu về lịch sử Phật giáo hay
chỉ là những ghi chép tạp nhạp, tùy tiện, bất nhất, là sản phẩm của tưởng tượng
hư cấu dựa trên những giai thoại dân gian? Điều khôi hài là cái motif “luyến ái
đơn phương, cầm tay khóc lóc, tự thiêu uống thuốc” này cũng được lặp lại ở một
nhân vật khác là Thiền sư Huệ Lưu (trụ trì chùa Huê Nghiêm) với cô tiểu thư con
một ông điền chủ ngay trong chính cuốn sách trên! (LSPGĐT, chương XI,
tiết VII, trang 252: Các thiền sư hoằng hóa ở chùa Huê Nghiêm).

Qua
sức “sáng tạo” của Nguyễn Hiền Đức, câu chuyện về Thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt
Công chúa Long Thành có “sức lôi cuốn ghê người”! Thế nên, khi bắt gặp cuốn
sách này, đã có không ít độc giả xúc độngvô tư trích dẫn để sáng tạo nên
hàng loạt bài viết theo thể loại chuyện tình éo le, giật gân câu khách, bất
chấp sự thật, vô hình trung đã xúc phạm trắng trợn đến những nhân vật đáng kính
trong lịch sử.

Cao
trào là cuốn tiểu thuyết Chuyện tình của Liên Hoa hòa thượng (CTCLHHT)
của Thích Như Điển, chùa Viên Giác Hannover, Đức, ấn hành năm 2010, sách gồm 12
chương, 632 trang. Theo tác giả cho biết, trong kỳ nhập thất lần thứ 7 ở tu
viện
Đa Bảo, Australia, ông đã gặp cuốn LSPGĐT của Nguyễn Hiền Đức
khi đọc đến chuyện của Hòa thượng Liên Hoa ông vội tin ngay là thật, “Khi đọc
đến trang 231 (cuốn LSPGĐT) thì câu chuyện của Hòa thượng Liên Hoa lại
hiện ra trước mắt mình. Đây là một câu chuyện hay, có thật, có thể là 98%,
tôi tin như vậy, vì có 2 long vịbài vị của Hòa thượng và Hoàng cô tại chùa
Từ Ân là bằng chứng. Do đó tôi nảy ra ý định là nên phóng tác từ chuyện này
thành một quyển tiểu thuyết lấy tên là “Chuyện tình của Liên Hoa hòa thượng” (CTCLHHT,
chương 12). Vì quá ngây thơ vì tin vào hai cái long vị, hay do quá đồng cảm mà
tác giả Thích Như Điển đã bỏ qua khâu khảo chứng để hăng hái sáng tạo nên một
tác phẩm bi thương tào lao hổ lốn lẫn lộn lung tung trình tự lịch sử, nhân vật,
thế thứ truyền thừa v.v. thậm chí ông còn bỏ công “soạn giúp” bà chúa hàng chục
bức thư tình, lẫn chiếu chỉ triều đình (Xem CTCLHHT, trang 624-625).
Thật mâu thuẫn, khi ông lại cho rằng mình đã “rất thận trọng cho mọi việc, nhất
phương diện lịch sử” (CTCLHHT, trang 627)…

Tôi xin không
đi sâu thêm vào cuốn tiểu thuyết CTCLHHT của Thích Như Điển, mà chỉ
mong, ông nên tìm hiểu thêm về hai nhân vật tiền bối hữu danh đáng kính, một
người là vị thiền sư có công hoằng hóa Phật giáo đầu thời nhà Nguyễn trên vùng
đất Nam Bộ, một người là vị công chúađịa vị, phẩm hạnh tôn quý trong dòng
họ
Nguyễn và có công lao không nhỏ đối với buổi trung hưng Phật giáo nước nhà.
bản thân ông cũng là người hoạt động trên lĩnh vực văn hóahoằng pháp tại
hải ngoại, và thấy rằng cuốn truyện kia là điều tai hại. Từ nó, những bàn cãi
tào lao bất kính và vô bổ trên diễn đàn internet bấy lâu của những Thiện Giới
Hoa Lan, Trần Bình Nam
v.v… những người đọc CTCLHHTxưng danhđệ tử của ông; ông phải
chịu phần trách nhiệm

Tạm kết:

Qua
câu chuyện của Hòa thượng Liên HoaCông chúa Long Thành cho thấy, ông Nguyễn
Hiền Đức đã quá chủ quan, tùy tiện khi biên soạn một công trình lịch sử Phật
giáo
. Do đó, độc giả có quyền nghi ngờ trình độ nghiên cứu của tác giả cũng như
tính khoa học của cuốn sách. Từ khi xuất bản đến nay đã gần 18 năm, có không ít
ý kiến phê bình đóng góp về rất nhiều nội dung sai lầm, đáng nghi của cuốn sách
này (15), tuy nhiên, tác giả không hề có phản hồi, biện chính. Chính
điều này đã biến cuốn sách thành đầu mối cho hàng loạt những sai lầm của những
người viết đi sau khi dẫn dụng mà không khảo chứng kỹ càng.

Câu
chuyện
tình ái nói trên chỉ là sản phẩm của tuồng tích dân gian, hoặc được ngụy
tạo do ý đồ nào đó để hợp thức hóa một hiện tượng hiện hành. Vì thế, nó hoàn
toàn
phi lịch sử và phản khoa học. Việc các vị tiền bối hữu công, đế vương,
công hầu, hậu phi… có công hộ pháp được thờ chung ở gian thờ Tổ trong các cổ tự
không phải là điều đáng ngạc nhiên. Trước năm 1945, phần lớn các chùa chiền như
quốc tự, tổ đình sắc tứ, quan tự phần lớn đều thờ long vị của các vị hữu công
tại chánh tẩm của tổ đường, thậm chí nếu là quốc tự thì long vị của hoàng đế,
thái hậu được thờ ngay ở chánh điện(16).

Trường hợp long vị của Công
chúa
Long Thành và Thiền sư Liễu Đạt ở chùa Từ Ân, có thể giải thích một cách
khác, rất có khả năng khi dời chùa Từ Ân về địa điểm hiện nay (17),
hạn chế diện tích hoặc do thiếu hiểu biết và nhầm lẫn nên mới có tình trạng
thờ chung long vị như trên. Nên biết rằng, chùa Sắc tứ Từ Ân xưa vốn là một đại
công
trình, một di tích tôn giáo quan trọng gắn bó với buổi đầu nhà Nguyễn
trung hưng nên khi bị triệt giải, các pháp khí, tượng thờ, hoành phi, biển
ngạch
bị thất tán, phần còn lại được gom góp về địa chỉ mới và sự lẫn lộn qua
biến thiên tang hải âu cũng là điều dễ hiểu.

Chú thích:

1.
Nguyễn Phước Côn, công tử thứ 2 của Thế Tông Hiếu Vũ Hoàng đế (Nguyễn Phước Hoạt, 1714-1765) và Nguyên phi Trương thị, định lập làm Thế tử. Thế Tông Hiếu Vũ băng, Trương Phúc Loan chuyên quyền cải di mệnh, lập công tử thứ 16 mới 12 tuổi là Nguyễn Phước Thuần lên ngôi (Duệ Tông Hiếu
Định, 1754-1777) để dễ bề chuyên quyền. Nguyễn Phước Côn bị Loan tống giam, lo buồn sinh bệnh; về đến phủ đệ thì mất, thọ 33 tuổi. Năm Gia Long thứ 5 [ ] truy tôn là Hưng Tổ Hiếu Khương hoàng đế, táng ở lăng Cơ Thánh.
2. Con gái của Cai cơ Nguyễn Phúc Trung (Diễn quốc công, gốc họ Mạc được ban quốc tính); mẹ họ Phùng, người làng
An Do (Đô/ Du), Quảng trị. Bà và Hưng Tổ Nguyễn Phước Côn có 4 người con (Long Thành công chúa Ngọc Tú, Thế Tổ Nguyễn Phước Ánh, Hải Đông quận vương Nguyễn Phước Đồng, Thông Hóa quận vương Nguyễn Phước Điển). Đồng bị Tây Sơn giết năm 1777, Điển chết trong trận Điệp Thạch (1783). Bà mất năm 1811, thọ 76 tuổi. Năm 1812 được tôn là Hiếu Khương hoàng hậu, táng ở lăng Thụy Thánh.
3. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam thực lục, tập 2, chánh biên, đệ nhị kỷ, quyển XXIV, tr.313. Nxb. Giáo Dục, 2007.
4. Sđd, tr. 313.
5. Sđd, tr. 313.
6. Sđd, tr. 635-636.
7. Xem: Từ điển Phật học Huệ Quang, tập VI, tr. 5118-5123. Nxb.Tổng Hợp TP.HCM, 2007.
8. L. Cadière, Lăng Gia Long, BAVH tập 10/ 1923, tr. 363-364. Nxb.Thuận Hóa, 2002.
 9. Đại Nam thực lục, sđd, tr. 636.
10.
Long vị của Công chúa Long Thành thờ tại chùa Từ Ân (TP.HCM) và chùa Quốc Ân (Huế) ghi: “Thích môn hộ giáo hoàng cô, thọ Bồ-tát giới, pháp danh Tế Minh, hiệu Thiên Nhựt chi vị”.
11. L. Cadière, Chùa Quốc Ân, các vị trụ trì, BAVH tập 2, 1915. Nxb.Thuận Hóa, 1997.
12.
Hiện nay ở tổ đường chùa Quốc Ân, Huế chỉ còn 2 bức chân dung, một bức là chân dung Thiền sư Nguyên Thiều, do Nguyễn Phước Hồng Cao vẽ năm Bảo Đại thứ 6 (1933); một bức là chân dung Thiền sư Như Hán Nguyên Cát (?-1914).
13. Huỳnh Minh, Gia Định xưa và nay, Tác giả xuất bản, Sài Gòn, 1973.
14. Xin tra trên internet, từ khóa “Hòa thượng Liên Hoa”.
15. Trần Đình Sơn, 1. Công chúa Long Thành, 2. Danh nhân Phật giáo Nam Hà. In trong Tản mạn Phú Xuân, nxb Trẻ, 2001).
16.
Nguyễn Vĩnh Tráng, Chuyện tình giữa Hòa thượng Liên HoaCông chúa Long Thành có thật chăng? http://chimviet.free.fr/lichsu/nguyenvinhtrang/nvtrn064_NguyenThiNgocTu.htm
17.
Chùa Sắc tứ Từ Ân xưa nằm ở khu vực chợ Đũi (khuôn viên Công viên Tao Đàn ngày nay), cuối thế kỷ XIX bị thực dân Pháp triệt phá. Sau đó, chùa dời về Phú Lâm, nay ở số 23 đường Tân Hóa, P.14, Q.6, TP.HCM.

Nghi Thủy
(Giác Ngộ)

Bài đọc thêm có liên quan đến chủ đề:

Chuyện
tình 


giữa
Hòa-Thượng Liên-Hoa 



Công-Chúa Long-Thành 



thật chăng ?

Nguyễn
Vĩnh-Tráng
http://chimviet.free.fr/lichsu/nguyenvinhtrang/nvtrn064_NguyenThiNgocTu.htm

Tôi
được một anh bạn cho một bài nói về chuyện yêu đương
của Công Chúa Long-Thành đối với Thiền Sư Liên-Hoa. Chuyện
thực, hư thế nào không biết, có điều là tác giả bài viết,
viết không rõ ràng, làm người đọc có thể lầm lẫn giữa
Công Chúa Long-Thành Ngọc-Tú và Công Chúa Bảo-Lộc Ngọc-Anh.
Tôi có đưa ý kiến đó cho anh bạn tôi, và được anh bạn
tôi cho biết là nhiều người bạn khác cũng có ý kiến đó,
và anh biết tôi có đôi chút tài liệu nói về hai Công Chúa
Long-Thành và Bảo-Lộc, nên đề nghị tôi tra cứu lại các
tài liệu, hầu làm rõ sự phân biệt giữa hai vị Công Chúa.

Câu chuyện được
đăng ở mạng lytuongnguoiviet trên Internet, dưới nhan
đề ” Đi tìm sự thật về chuyện tình hoàng gia ngang trái
“. Tôi xin trích vài hàng của bài đó như sau :

“Chuyện
tình đẹp bi thương – Chuyện Công chúa triều Nguyễn yêu đơn
phương một nhà sư “.


Chuyện nàng Công chúa triều Nguyễn là Hoàng nữ đệ tam Công
chúa
Nguyễn Thị Ngọc Anh yêu đơn phương một vị nhà sư
thiền sư Thiệt Thành Liễu Đạt – sau được phong là Quốc
– đã để lại nhiều huyền tích khiến người đời vừa
xúc động cảm thương nàng công chúa, vừa bội phục một
vị chân tu đắc đạo

Thiền
có rất nhiều đệ tử trong hoàng cung. Trong số đệ tử
này có một vị Hoàng cô Nguyễn Thị Ngọc Anh, đó là Thái
trưởng công chúa Long Thành, chị ruột chúa Nguyễn Phúc Ánh,
cô ruột của vua Minh Mạng. Hoàng cô cũng quy y và thọ Bồ
Tát giới
, pháp danh Tế Minh, tự Thiên Nhựt. Trong những ngày
theo học đạo, Hoàng Cô đã thầm yêu nhà sư. Do cảm mến
và quá hâm mộ tài năng cũng như đức độ của Thiền sư
nên Hoàng Cô đã có ý định và tìm mọi cách ràng buộc duyên
trần
cùng với người con của Phật…

Tưởng
rằng khi ôm hôn được bàn tay của Thiền sư thì mọi chuyện
sẽ lắng xuống. Nhưng không ngờ, ngay đêm hôm ấy, vào khoảng
canh ba, trong khi mọi người đang yên giấc, bỗng thấy tịnh
thất
của Thiền sư phát hỏa, mọi người chạy ra dập lửa
thì tịnh thất đã cháy rụi. Nhục thân của thiền sư cũng
cháy đen. Mọi người đang bàn tán, xôn xao, có người phát
hiện bài kệ của thiền sư viết bằng mực đen trên vách
chánh điện :

“THIỆT
đức rèn kinh vẹn kiếp trần


THÀNH
không vẩn
(dấu hỏi) đục vẫn trong ngần

LIỄU
tri
mộng huyễn chơn như huyễn


ĐẠT
đạo mình
(dấu huyền) vui đạo mấy lần”.

Thiền
Liên Hoa biết cuộc đời này là mộng huyễn ảo ảnh nên
đã dùng ngọn lửa để thức tỉnhgiáo hóa Hoàng Cô.

Nhưng
có lẽ do duyên nghiệp nhiều đời nhiều kiếp, nên ngọn
lửa ấy đã không đạt được kết quả như mong muốn. Sau
khi làm lễ cúng thất tuần Hòa thượng Liên Hoa xong, Hoàng
Cô rất buồn bã và cho biết rằng bà sẽ ở lại chùa Đại
giác
cho đến ngày khai mộ mới hồi kinh. Nhưng ngay ngày hôm
sau, Hoàng Cô uống độc dược quyên sinh tại hậu liêu chùa
Đại giác nhằm ngày mồng 2 tháng 11 năm Quý Mùi (1823).

Hoàng
Công chúa Nguyễn Thị Ngọc Anh chết theo Thiền sư để
lại sự cảm động cho triều đình và nhân dân khắp vùng.
Từ đó, ngôi chùa trở nên nổi tiếng và được các đời
vua nhà Nguyễn chăm sóc đặc biệt
.”.

Hết
trích.

Đây là lần đầu
tiên tôi nghe nói đến chuyện ” Tình ” nầy, nên tò mò, tôi
lên Internet tìm những bài nói về chuyện ” Tình ” đó. Thôi
thì có hàng chục bài, sao đi chép lại chuyện như đã được
đăng ở mạng
lytuongnguoiviet, với những Tựa khác nhau,
như Chuyện tình công chúa triều Nguyễn với một nhà sư,
hay
Bi
kịch
tình yêu thảm thương nhất trong cung đình
Việt
Nam
…, hay cả trên Wikipedia !…

Sau khi tìm đọc
qua những bài trên, ở Internet, tôi tình cờ thoáng thấy một
cuốn Tiểu Thuyết có nhan đề là Chuyện tình của
Liên Hoa
Hoà Thượng– CTLHHT của ông Thích Như Điển.
Thấy là lạ, nên tôi đọc sơ qua bài giới thiệu của cuốn
đó, thì thấy ông Như Điển, tự nhận là đã lấy ý trong
cuốn Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong – LSPGĐT, của Nguyễn
Hiền Đức và cuốn Thiền Sư Việt Nam – TSVN, của Thích
Thanh Từ.

Chuyện ” Tình ”
ở chốn thiền môn hay ở nơi cung cấm, tôi e cũng có, vì
chúng ta cũng chỉ là những con người, mà đã là con người
thì có tình, có cảm, nhận biết được cái đẹp của thiên
nhiên
, cái hay của một tâm hồn cao thượng… Nhưng chuyện
” Tình ” trình trên lại chỉ về hai nhân vật lịch sử rất
khả kính và rất nổi tiếngThiền Sư Hòa Thượng Thiệt-Thành
– Liễu-Đạt – Liên-Hoa, một vị Thiền Sư, vì lý tưởng của
mình, mà đã ẩn mình tu học ở chốn Thiền Môn, và Công
Chúa
Long-Thành, một vị Công Chúa, vì lý tưởng của mình,
mà giữ tiết nghĩa cho đến lúc già yếu, cho đến lúc lâm
chung
, nên hiếu kỳ, tôi đã nhờ một người bạn của gia
đình
tôi, tìm mua giúp cho tôi, tại Việt Nam, cuốn LSPGĐT,
in năm 1995. Vì sách ra đã lâu ngày, nên không còn bán tại
các tiệm sách, làm anh bạn tôi vất vả cả mấy tháng trời
mà cũng tìm không ra, sau cùng anh đã sao chụp lại rất tỷ
mỷ cuốn đó và gởi cho tôi. Ở đây, tôi xin chân thành cảm
tạ
công ơn của anh bạn chí thành đó.

Để cố gắng làm
sáng tỏ, chuyện ” Tình ” trên, tôi xin chia bài nầy theo các
mục như sau :

Phân biệt
ràng
hai vị Công-Chúa Long-Thành Nguyễn-Phước Ngọc-Tú và
Công-Chúa Bảo-Lộc Nguyễn-Phước Ngọc-Anh.

– Chuyện của Hòa-Thượng
Liên-Hoa trong cuốn Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong của
Nguyễn Hiền Đức.

– Cuốn tiểu thuyết
Chuyện
tình của Liên Hoa Hòa Thượng
của Thích Như Điển.

– Chánh sử (Đại
Nam Thực Lục Tiền Biên, Chánh Biên –
ĐNTLCB, Đại Nam
Liệt Truyện
– ĐNLT), Khâm Định Đại Nam Điển Lễ
Sự Lệ
– KĐĐNĐLSL, Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả
NPTTP, cùng những tài liệu lấy ở Bulletin des Amis du Vieux
Huế
– BAVH.

– Vài sự kiện
lịch sử.

Kết luận.

I
– Công-Chúa Long-Thanh Nguyễn-Phước Ngọc-Tú và Công-Chúa Bảo-Lộc
Nguyễn-Phước Ngọc-Anh.
Theo Nguyễn Phúc
Tộc Thế Phả – NPTTP (Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 1995, Huế),
trang 226, 227 và trang 261, 262, thì :

1) Công Chúa Long-Thành,
húy Nguyễn-Phước Ngọc-Tú.

Bà là trưởng nữ
của Hưng Tổ (Nguyễn-Phước Luân), chị cùng mẹ với Thế
Tổ
(Nguyễn-Phước Ánh), sinh năm Kỷ-Mão (1759). Chồng là
Cai Cơ Lê Phúc Điển. Năm Quý-Mão (1783), khi đánh nhau với
quân Tây Sơn ở đảo Diệp Thạch, Phúc Điển bị địch bắt
bị giết.

Khi chồng mất,
Bà còn trẻ tuổi, giữ tiết. Bà từng bảo rằng ” Điển
làm bầy tôi biết giữ nghĩa mà chết, ta là vợ há đổi
tiết sao, khi nào lấy lại Kinh Đô cũ ta sẽ xuất gia thờ
Phật
“.

Đầu đời Gia-Long,
Thế-Tổ làm nhà tại làng Dương Xuân (Thừa-Thiên) cho Bà
ở. Bà thường xin cắt tóc đi tu, nhưng Thế-Tổ không vui.

Bà mất vào tháng
11 năm Quý-Mùi (1823), thọ 65 tuổi.

Vì Bà vô tự, nên
Thường-Tín Công Nguyễn-Phước Cự, con của Thế-Tổ, trông
coi
việc thừa tự.

[Duới triều Gia-Long,
vì Bà là chị của Thế-Tổ, nên người ta gọi Bà là Trưởng
Công Chúa. Dưới triều Minh-Mạng, vì Bà là công chúa của
triều trước và cũng là cô ruột của Thánh-Tổ, nên người
ta gọi Bà là Thái Trưởng Công Chúa hay còn gọi là Hoàng
Cô. (Xin xem thêm ở phần IV, Chánh Sử ở dưới). Cũng theo
NPTTP thì đời nhà Hán, chị và em gái của vua gọi là Trưởng
Công Chúa, đời nhà Đường, cô của vua gọi là Thái Trưởng
Công Chúa.]

2) Công-Chúa Bảo-Lộc
húy Nguyễn-Phước Ngọc-Anh.

Bà là con gái thứ
ba của Thế-Tổ. Bà sinh năm Canh-Tuất (1790). Năm Mậu-Thìn
(1808), Bà lấy chồng là Vệ-Uý Trương Phúc Đặng, con trai
của Cai-Cơ Trương Phúc Tuấn. Năm Đinh-Hợi (1827), Phúc Đặng
vì bắt người trái phép, bị cách chức nghị tội, Đặng
sợ, tự tử mà chết. Về sau được khai phục lại nguyên
hàm.

Bà mất năm Canh-Tuất
(1850), thọ 61 tuổi.

Bà có 1 người
con trai và 3 người con gái.

II
– Cuốn Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong của Nguyễn Hiền Đức.
1) Tác giả.

Theo amida.vn (Nam
Mô A Di Đà Phật
) thì Nguyễn Hiền Đức, Cử Nhân Giáo Khoa
Sử Học, năm 1973, (Đại Học Văn Khoa Sàigòn) là một nhà
nghiên cứu lịch sử, nhất là về Phật Giáo. Ông có làm
Giảng Viên tại Học Viện Phật Giáo Việt Nam (thành phố
HồChíMinh). Ông đã cho ra nhiều tác phẩm nghiên cứu về
Phật Giáo như
Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam (từ khi
du nhập đến đời Lý), Lịch Sử Phật Giáo Đàng Ngoài
(1592 – 1801), Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong (1558 – 1802)…

2) Cuốn Lịch
Sử
Phật Giáo Đàng Trong – LSPGĐT.

Cuốn nầy gồm
2 tập, tập I có 386 trang, tập II có 490 trang, tổng cọng (cộng)
876 trang, in năm 1995 do nhà Xuất Bản Thành Phố HồChíMinh
ấn hành. Là một tài liệu nghiên cứu về Phật Giáo Đàng
Trong khá công phu. Sách có cho 31 tài liệu tham khảo và trích
dẫn (22 bằng chữ Việt, 9 bằng chữ Hán). Trong những trang
viết thì đôi khi có dẫn chứng các tài liệu, đôi khi có
ghi chú ở phần cuối trang, như khi bàn về ngày sinh và ngày
mất của Tổ Nguyên-Thiều (trang 101, tập I), hay là bàn về
chuyện của Tổ Mật-Hoàng làm Tăng-Cang ở chùa Thiên Mụ
(trang 260, tập I) …

Tôi không đọc
hết cả cuốn nầy, mà chỉ đọc những đoạn nói về Hòa
Thượng
Liên-Hoa hay Thiền Sư Thiệt-Thành – Liễu-Đạt, cùng
các chùa Thiên Mụ, Quốc Ân (Huế), Từ Ân, Khải Tường (Sàigòn),
Đại Giác (Biên Hòa).

Tên của Hòa Thượng
Liên-Hoa được nhắc đến một vài nơi của cuốn sách, nhưng
chuyện chính của Hòa Thượng thì được viết trong tập II,
từ trang 231 liên tục đến trang 235. Không cho xuất xứ
(nguồn tài liệu). Cuối trang 235 có hình chụp Long Vị của
Hòa Thương Liên-Hoa và Thần Vị của Hoàng Cô kề sát nhau
bàn thờ Tổ, tại chùa Từ Ân
(1) (để làm bằng chứng
chăng ?).

Chuyện xin trích
tóm tắt như sau :


Khoảng những năm 1789, trước khi xây xong thành Gia Định,
Nguyễn Vương và triều thần tạm trú tại chùa Từ Ân; Thái
Hậu
, Vương Phi, Công Chúa tạm trú tại chùa Khải Tường
do Hòa Thượng Liên-Hoa làm thủ tọa
(2), và Thái Trưởng
Công-Chúa Long-Thành đã thọ giới với Hòa Thượng.

Năm
1805, khi Thái Trưởng Công Chúa lên đường về Kinh Đô, Hòa-Thượng
Liên-Hoa có nhờ Công Chúa lo trùng tu chùa Quốc Ân, vì chùa
nầy là do Tổ Nguyên-Thiều xây dựng từ năm 1683.

Năm
1817, Hòa-Thượng Liên-Hoa được cử làm Tăng Cang chùa Thiên
Mụ
và làm pháp sưnội cung. Trong thời gian nầy, Hòa Thượng
Linh-Nhạc, ở chùa Từ Ân, lo cho Hòa Thượng Liên-Hoa không
tránh khỏi mối dây ràng buộc trần duyên, vì giảng giải
trong nội cung, gần nữ giới. Năm 1821, Hòa Thượng Linh-Nhạc
mất, nhưng mãi đến năm 1823, Hòa Thượng Liên-Hoa mới biết
tin, và nhân đó, lấy cớ xin từ nhiệm ở chùa Thiên Mụ,
để về làm trú trì chùa Từ Ân.

Vào
tháng 10 năm 1823, Hoàng Cô vâng lệnh vua (Minh-Mạng) vào Gia
Định để cúng dường chùa Từ Ân và chùa Khải Tường.
Hòa Thượng Liên-Hoa nghe tin, muốn lánh mặt Hoàng Cô, nhưng
Hòa Thượng Viên-Quang khuyên cứ tiếp Hoàng Cô. Trong thời
gian
Hoàng Cô ở chùa Từ Ân, mỗi sáng Hòa Thượng Liên-Hoa
đều tiếp kiến và hầu chuyện với Hoàng Cô, cho đến ngày
thứ ba, thì không biết Hòa Thượng Liên-Hoa đi đâu mất.
Hoàng Cô cho người tìm kiếm, nhưng vô hiệu quả. Hoàng Cô
trầm tư, buồn bả, không màng ăn uống trong ba ngày. Vì sợ
Hoàng Cô đi đến tuyệt vọng có hại cho chùa, thị giả Mật
Đĩnh đã cho Hoàng Cô biết là Hòa Thượng Liên-Hoa đã đến
chùa Đại Giáccù lao Phố, tỉnh Biên Hòa để nhập thất
trong hai năm. Hoàng Cô báo cho quan trấn thủ Gia Định là sẽ
đến chùa Đại Giác để cúng dường.

Đến
chùa Đại Giác, sau khi lễ Phật xong, Hoàng Cô đến tịnh
thất
của Hòa Thương Liên-Hoa, xin diện kiến, nhưng Hòa-Thượng
không trả lời. Hoàng Cô quỳ xuống thưa, nếu Hòa Thượng
không tiện ra tiếp, thì xin Hòa Thượng cho thấy bàn tay, thì
cũng đã hân hoan mà ra về. Im lặng trong vài phút, Hòa-Thượng
đưa bàn tay ra ở cửa nhỏ, nơi đưa thức ăn vào tịnh thất.
Hoàng Cô vội ôm lấy bàn tay hôn nhẹ một cách trùi mến,
rồi sụp xuống lạy ba lạy và khóc sướt mướt…

Đến
giữa đêm, tịnh thất của Hòa Thượng Liên-Hoa phát cháy
và xác thân của Hòa Thượng cũng cháy tiêu. Mọi người
đang bàn tán xôn xao, có người phát hiện được bài kệ
Niết Bàn viết bằng mực đen trên vách chánh điện
(3)
:

THIỆT
đức rèn kinh vẹn kiếp trần,

THÀNH
không vẩn (dấu hỏi) đục vẫn trong ngần.

LIÊU
(thiếu dấu ngã chăng ?) tri mộng huyễn chơn như huyễn,

ĐẠT
đạo minh (không dấu) vui đạo mấy lần.

Phía
dưới có đề : Sa môn Thiệt-Thành hiệu Liễu Đạt.

Sau
khi làm lễ nhập tháp Hòa Thượng Liên Hoa xong, Hoàng Cô rất
buồn bã và cho biết sẽ ở lại chùa Đại Giác cho đến
ngày khai mộ mới hồi kinh. Nhưng, ngay ngày hôm sau đó, Hoàng
Cô uống độc dược tự tử tại hậu liêu chùa Đại Giác,
ngày mùng 2 tháng 11 năm Quý-Mùi (1823), thọ 65 tuổi. (
lẽ Hòa Thượng Liên-Hoa lúc đó cũng hơn 60 tuổi
) (4).

Thiền
Bổn-Giác, trú trì chùa Từ Ânchư tăng lo lễ nhập
tháp
Hòa-Thượng Liên-Hoa, cùng lễ an táng Hoàng Cô
(5)
và thỉnh long vị của Hòa Thượng Liên-Hoa và linh vị Hoàng
Cô về thờ ở chùa Từ Ân. Long vị của Hòa Thượng thờ
bàn thờ Tổ, linh vị của Hoàng Cô thờ ở bàn thờ
tánh
. Nhưng sau đó bổng nhiên xảy ra nhiều sự cãi vã, xào
xáo trong chùa, nên Hòa Thượng Viên-Quang đề nghị với Thiền
Bổn-Giác đua linh vị của Hoàng Cô thờ chung với long
vị
của Hòa Thượng Liên-Hoa ở bàn thờ Tổ.
Quả nhiên
sau khi làm như thế, trong chùa Từ Ân trở lại bình thường
…(6)
“.

Hết trích.

Đó là tóm tắt
5 trang viết về Hòa Thượng Liên-Hoa trong cuốn LSPGĐT. Gạch
dưới ở những nhóm chữ trên là do tôi làm.

3) Ý kiến của
tôi :

a) Nguyễn Hiền
Đức
đã khai thác tài liệu thiếu chính xác.

– Tập II, trang 257,
258 của LSPGĐT cho : ” Tạp chí Bulletin des Amis du Vieux Huế (BAVH)
năm 1915 có viết như sau : “Công chúa Ngọc Anh, chị của vua
(Minh Mạng) còn trẻ và tiết liệt, khi Tây Sơn khởi nghĩa
đã đến tu ở chùa Đại Giác, giữ cuộc sống cô độc trầm
tư mặc tưởng
tu hành hết sức sùng mộ”.”.

Tôi đã rà cả
4 tập Bulletin des Amis du Vieux Huê, của năm 1915 mà không thấy
nói về chuyện đó. Tôi cho rằng tác giả viết lầm năm,
hoặc năm bị in sai, tôi mới tìm trong Index analytique et Résumé
des matières
(Bảng tra phân tích và mục lục) của BAVH,
năm 1924, thì không thấy có những tên Ngọc-Anh, Bảo-Lộc,
Đại Giác (có chữ Đại Giác nói về điện thờ Phật
chùa Diệu Đế, chứ không nói đến chùa Đại Giác ở Biên
Hòa), nhưng có thấy những tên Bổn Giác ở BAVH, 1915, tập
3 (Juillet-Septembre), trang 315-316; Mật-Hoàng ở BAVH, 1915, tập
2 (Avril-Juin), trang 186 và tập 3, trang 311-314; Liên-Hoa ở BAVH,
1915, tập 3, trang 309, 310; Long-Thành ở BAVH, 1915, tập 3, trang
308, 309, và ở BAVH, 1915, tập 4 (Octobre-Décembre), trang 341-348;
Ngọc-Tú cũng ở BAVH, 1915, tập 3, trang 308, và ở BAVH, 1915,
tâp 4, trang 341-348.

Mặt khác, ” khi
Tây Sơn khởi nghĩa ” là năm nào ? vào những năm 1780 chăng
? Lúc đó Công Chúa Ngọc-Anh chưa sinh ra (sinh năm 1790), thì
làm gì có ” giữ cuộc sống cô độc trầm tư mặc tưởng
tu hành hết sức sùng mộ “. Cho đi đến 1801, thì Công
Chúa
Ngọc-Anh cũng chỉ mới 11 tuổi !

– ” Thái Hậu, Vương
Phi
, Công Chúa tạm trú tại chùa Khải Tường do Hòa Thượng
Liên-Hoa làm thủ tọa ” (xem hàng gạch dưới ở (2), phần
trên) là sai. Thánh-Tổ sinh ở làng Tân Lộc, tỉnh Gia Định,
năm 1791, cũng vì thế sau nầy, cho chỗ ấy là đất thiêng
và để cám ơn Trời Phật, nên năm Minh-Mạng thứ 13 (1832),
Thánh-Tổ cho xây chùa Khải Tường ở tại đó. (Xem ĐNTLCB,
Đệ Nhị Kỷ, Quyễn LXXXIII. Thực lục về Thánh-Tổ Nhân
Hoàng Đế : ” Nhâm thìn, năm Minh Mệnh thứ 13 [1832], mùa thu,
tháng 9… “. Chuyện xây cất chùa Diệu Đế ở Huế, sau nầy
cũng thế (nơi sinh của Hiến-Tổ).

– Tập II, trang 298,
299 của cuốn LSPGĐT cho : ” … Tăng Cang Tiên-Giác – Hải Tịnh
(huý Nguyễn Tâm Đoan) bị tội chưa biết tội gì, nên bị
cách chức Tăng Cang, bị đày làm việc nặng ở chùa (Thiên
Mụ
)…, mãi đến khi vua Thiệu Trị lên ngôi (năm 1841), Thiền
Hải-Tịnh mới được vua tha tộiphục hồi chức Tăng
Cang
Tăng Cang Hải-Tịnh là người ở Gia Định…, có thể
Tổng Trấn Lê Văn Duyệt đề nghị với vua Minh Mạng cho Thiền
Hải-Tịnh làm Tăng Cang chùa Thiên MụVì vậy khi Lê
Văn Khôi nổi loạn, vua Minh Mạng kết tội Tăng Cang Hải-Tịnh,
cách chức Tăng Cang và bắt làm việc nặng ở chùa Thiên Mụ
“.

Chuyện nầy là
sai ! Sao lại kéo Lê Văn Khôi vào đây ? Sự thật là, theo
Đại
Nam Thực Lục Chính Biên
, Đệ nhị kỷ, Quyển CCVII, tháng
10 và 11 cho : ” Kỷ Hợi, Minh Mệnh năm thứ 20 [1839], mùa đông,
tháng 10… Sư chùa Thiên Mụ có tên Nguyễn Văn Huấn vì ghen
giết người. Bộ Hình và viện Đô Sát xét hỏi qua một năm
không khám phá ra manh mối. Đến nay Khoa Đạo là Nguyễn Sĩ
Đăng, Lê Tập bí mật đi dò xét tìm được tình trạng, đều
thưởng cho mỗi người 10 lạng bạc và gia một cấp. Khi án
giao xuống đình thần xét, Huấn bị xử trảm hậu; sư trưởng
Nguyễn Tâm Đoan, cách bỏ chức trụ trì, chuẩn bắt phải
làm việc nặng nhọc tại chùa ấy. “.

Sau nầy Hòa Thượng
Hải-Tịnh được phục hồi chức Tăng Căng vào năm nào, thì
tôi không rõ, nhưng theo Khâm Định Đại Nam Hội Điển
Sự Lệ
(Nhà Xuất Bản Thuận Hóa, 1993), Tập 8, trang 201,
thì ” Năm Thiệu Trị thứ 2 (1842), chuẩu lời tâu : Tăng Cang
chùa Giác Hoàng là Nguyễn Tâm Đoan (Hòa Thượng Hải-Tịnh)
chuẩn chiếu như lệ Nguyễn Nhất-Định (Hòa Thượng Nhất-Định),
tháng cấp 3 quan tiền, 1 phương gạo…”.

– Ngay cả chuyện
Hòa Thượng Liên Hoa có làm Trú Trì ở chùa Thiên Mụ cũng
là một nghi vấn. Trong cuốn LSPGĐT không cho một chứng cứ
lịch sử nào hết. Chuyện nầy, phải đến các chùa Thiên
Mụ
Quốc Ân, để xin khảo sát tường tận các tài liệu
đang tồn trữ ở chùa, mới có thể biết thực hư được.
Linh Mục Léopold Cadière là một người rất hiếu kỳ, một
nhà thông thái lại có trong tay rất nhiều tài liệu về các
chùa Thiên Mụ, Quốc Ấn, nếu Hòa Thượng Liên-Hoa có làm
Trú Trì ở chùa Thiên Mụ, thì có lẽ trong bài ” La Pagode de
Quấc Ân ” (Xin xem phần IV, Chánh sử, ở dưới), Linh Mục
Cadière đã đề cập đến.

– Ngày sinh, ngày
mất của Hòa Thượng Mật-Hoằng (LSPGĐT, Tập II, trang 272)
cũng sai, nhưng ở đây, tôi không bàn tới, vì không phải
đề tài của bài viết.

Ngoài ra về chuyện
Hiệp Đức Hầu Nguyễn-Phước Thuần trong LSPGĐT (Tập II,
trang 128-129) cũng bị Trần Đình Sơn phản bác như sau :

” Điều rất đáng
ngạc nhiên là trong sách Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong ( LSPGĐT
), nhà nghiên cứu Nguyễn Hiền Đức công bố sự việc cuối
đời Hiệp Đức Hầu, hoàn toàn khác hẳn với sử sách xưa
nay
… Phát hiện mới lạ trên , không biết tác giả căn cứ
theo
truyền thuyết nhân gian, ( Bản thảo : lược sử chùa
Sắc tứ Minh Thiện của giáo thọ Huệ Đăng, biên soạn năm
Mậu Thìn 1988 ) hay có cứ liệu xác thực chứng minh ? Nên
nhớ, Hiệp Đức Hầu đối với Hoàng tô?c Nguyễn là một
vị thân vương danh tiếng. Võ công của ông được xếp vào
thượng đẳng thời các chúa, khi ông mất, Hiền Vương ( cha
) đã làm quốc tang theo tước Công. Dòng dõi của ông hiển
đạt
cho đến cận đại. Nếu sự kiện cuối đời của ông
xuất giaviên tịch ” như trong LSPGĐT viết, có lẽ nào
quốc sử lẫn tộc phổ chẳng ghi lại một dòng để cho đời
sau
hay biết. [Nguồn : giaodiemonline] “. [LSPGĐT nói Ông đã lập
chùa Minh Thiện ở Khánh Hòa, và sau đó an nhiên viên tịch
và được nhập tháp trong khuôn viên chùa nầy…].

Thật thế, chuyện
Bà Nguyễn-Phước Ngọc-Cầu
球 , con của Dận Quận Công Nguyễn-Phước Điền
氵田 , có lập chùa Phước
Thành ở An Cựu, Huế, đã được sử quán nhà Nguyễn (Đại
Nam Liệt Tuyện Tiền Biên
) ghi. Bà được phong tặng là
Tuệ-Tĩnh (có nơi cho là Huệ-Tĩnh) Thánh Mẫu Nguyên Sư. Ở
Huế, người ta gọi là chùa Bà Sư. Tháp của Bà nằm ở vườn,
sau chùa.

Đại Nam Thực
Lục Tiền biên
. Quyển V. Thực lục về Thái Tông Hiếu
Triết Hoàng Đế (Hạ), cho : ” Khi (Hiệp Đức Hầu) dẹp xong
giặc trở về, tuyệt hẳn không cho đàn bà con gái yết kiến,
dựng am nhỏ thờ Phật, thỉnh thoảng ra chơi, bàn đạo thuyết
pháp
để tự vui. Đến đấy bị bệnh đậu mà mất, mới
23 tuổi. “. NPTTP cho thêm, ở trang 144 : ” Bà vợ của Ông húy
là Nguyễn Thị Hưng, tiểu sử không rõ. Bà mất ngày 13 tháng
2 âm lịch (năm ?), mộ táng cùng một chổ với Ông, trong khuôn
viên nhà thờ của phòng. “.

Vậy Nguyễn Hiền
Đức
đã khai thác tài liệu thiếu chính xác, và đôi khi,
chưa tìm ra tường tận các tài liệu lịch sử, thì lấy giả
thuyết
riêng của mình để giải thích những sự kiện lịch
sử
. Thật đáng tiếc cho một công trình nghiên cứu về lịch
sử
!

b) Một số tài
liệu
quan trọng mà Nguyễn Hiền Đức dùng.

Một số tài liệu
quan trọng mà Nguyễn Hiền Đức dùng, không nới đến Hòa
Thượng
Liên-Hoa. Như Việt Nam Phật Gíao Sử Lược của
Thượng Tọa Thích Mật-Thể, Việt Nam Phật Giáo Sử Luận
của Nguyễn Lang,
Lịch Sử Phật Giáo Việt Nam của Hòa
Thượng
Thích Thiện-Hoa…

c) Bài kệ (xem
hàng gạch dưới ở (3), phần trên).

Bài kệ đó, nếu
là do Hòa Thượng Liên-Hoa viết thật, thì Hòa Thượng cũng
đã viết trước khi Hoàng Cô đến chùa Đại Giác, vì khi
Hoàng Cô đến chùa, thì Hòa Thượng đã nhập thất, và ngay
sau đó, tịnh thất của Hòa Thượng đã phát hỏa. Không lẽ,
trước khi tịnh thất phát hỏa, Hòa Thượng đã lén ra chánh
điện
, để viết bài kệ ?

Mặt khác, bài kệ
đó là một bài thơ tiếng Việt. Không biết vào thời đó
(1823), Hoà Thượng viết bài kệ bằng chữ Quốc Ngữ (mẫu
tự Latinh), hay bằng chữ Nôm (viết dựa theo chữ Hán) ? Những
Thiền Sư vào thời của Hòa Thượng Liên-Hoa hay là những
đệ tử của các vị, đều viết bài kệ theo chữ Hán. Điều
nầy làm cho ta nghi ngờ bài kệ trên là của Hòa Thượng Liên-Hoa.
Rất có thể bài kệ trên là do người đời sau viết.

d) Hòa Thượng
Liên-Hoa lúc đó cũng trên 60 tuổi (xem hàng gạch dưới ở
(4) phần trên).

Trên 60 tuổi là
bao nhiêu tuổi ? 61, 62 ? Cho đi 62 tuổi, và nếu Hòa Thượng
Liên-Hoa mất vào năm 1823, thì Hòa Thượng sinh năm 1761 (hay
1762, tính theo tuổi ta). Theo BAVH 1915, tập 3 (juillet-Septembre),
Linh Mục Léopold Cadière cho ở trang 309 : ” Sau khi chồng (Lê
Phúc Điển) mất (1783), Công Chúa Long-Thành thường hay đi
lễ (fréquenter) ở chùa Từ Ân và được Trú Trì (Supérieur)
Liên-Hoa, còn được gọi là Thiệt-Thành, hay Liễu-Đạt khuyên
nhủ thọ Ngũ Giới. “.

Vậy Hòa Thượng
Liên-Hoa làm Tọa Chủ hay Trú Trì chùa Từ Ân lúc chỉ mới
22 hay 21 tuổi (1783 – 1761 = 22). Một nhà sư còn quá trẻ như
thế, mà được chỉ định làm Tọa Chủ, hay Trú Trì một
ngôi chùa lớn như chùa Từ Ân (trong LSPGĐT, Tập II, trang 268,
Nguyễn Hiền Đức lại ghi là làm Thủ Tọa, lo điều khiển
tăng chúng cho cả hai chùa Từ Ân và Khải Tường), là một
chuyện khó có thật, lúc bấy giờ. Nói Hòa Thượng Liên-Hoa
lúc đó (1823) có khoảng 70 hay trên 70 tuổi, thì có thể đúng
hơn.

e) An táng Hoàng
Cô (xem hàng gạch dưới ở (5), phần trên).

Nếu chư tăng an
táng
Hoàng Cô tại Biên Hòa, thì cớ sao trong Đại Nam Thực
Lục Chính Biên
ĐNTLCB, Đệ nhị Kỷ – Quyển XXIV, Thực
lục về Thánh-Tổ Nhân Hoàng Đế, tháng 11, ghi ” Quý mùi,
năm Minh Mệnh thứ 4 [1823], mùa đông, tháng 11… Thái Trưởng
Công Chúa là Ngọc-Tú chết … bèn sai Kiến An Công Đài cùng
Diên Khánh Công Tấn hội đồng với bộ Lễ mà trị tang.
Nghỉ chầu 5 ngày. Tứ tế một đàn… Tặng Long-Thành Thái
Trưởng Công Chúa, thụy Trinh-Tĩnh… Ngày táng, vua nghỉ chầu,
mặc áo trắng đi đưa…”.

Còn nếu lấy giả
thuyết
là đưa Linh-Cữu của Hoàng Cô từ Biên Hòa về táng
Thuận Hóa thì, đi đường bộ hay đường thủy, lúc bấy
giờ, cũng phải mất hơn một tháng, như thế làm sao an táng
Hoàng Cô tại Đình Môn, cho kịp trong tháng 11 năm Quý Mùi
như ĐNTLCB đã cho ?

Ở đây cũng xin
mở ngoặc. Theo Đại Nam Thực Lục Chính Biên, Đệ Nhất
kỷ, quyển XXV (Gia Long năm thứ 3 [1804]) cho : ” Mùa thu, tháng
7… Định hạn ngày đệ trạm. Phàm phái người chuyển đệ
công văn theo trạm, từ Gia Định đến Kinh là 13 ngày, từ
Bắc Thành đến Kinh là 5 ngày, đúng hạn thì được thưởng
tiền theo thứ bực khác nhau. (Gia Định thưởng 5 quan, Bắc
Thành thưởng 3 quan). Chậm 1, 2 ngày không thưởng, chậm 3,
4 ngày phạt 30 roi. “. Thời bấy giờ, đi ngựa chạy công văn
đã như thế, huống hồ là đưa linh cữu của một công chúa
!

f) Chuyện tịnh
thất
của Hòa Thượng Liên-Hoa phát cháy.

Chuyện tịnh thất
của Hòa Thượng Liên-Hoa phát cháy và thân xác bị thiêu,
hay chuyện Hòa Thượng được hỏa thiêu đi nữa, cùng năm
mất của Hòa Thượng (1823) cũng không chắc chắn gì cả.
Không có một chứng cứ lịch sử nào ở trong cuốn LSPGĐT,
để chứng minh điều đó.

g) Xào xáo trong
chùa… trở lại bình thường (xem gạch dưới (6) ở phần
trên)

Đây là một chuyện
dị đoan, mà chắc độc giả cũng đồng ý với tôi, là khó
mà tin như thế được.

h) Long Vị của
Hòa Thượng Liên-Hoa và Thần Vị của Công Chúa Long-Thành

(xem phần gạch dưới (1) ở phần trên).

LSPGĐT không cho
biết
những chữ được viết trên Long Vị của Hòa Thượng
Liên-Hoa (thật đáng tiếc !), mà chỉ cho biết những chữ
được viết trên Thần Vị của Công Chúa Long-Thành như sau
: ” Thích môn hộ giáo, Hoàng Cô thọ bồ tác giới, pháp danh
Tế-Minh, tự Thiên-Nhựt, chi vị “. Có lẽ ngày mất của Công
Chúa
mà LSPGĐT cho đã lấy ở trên Thần Vị nầy.

Chính vì Long Vị
của Hòa Thượng và Thần Vị của Công Chúa được đặt
kề nhau trên bàn thờ Tổ là một chuyện ” lạ “, nên đã
sinh ra chuyện ” tình ” mà Nguyễn Hiền Đức đã kể trên.

Theo tôi, khi đi
nghiên cứu ở chùa Từ Ân, Nguyễn Hiền Đức phát hiện Long
Vị
của Hòa Thượng Liên-Hoa kề bên Thần Vị của Hoàng
Cô ở bàn thờ Tổ, nên mới lấy làm ” lạ ” và đã hỏi
các sư hiện đang tu học ở chùa hay các bổn đạo của chùa
hay bà con đang ở xung quanh chùa về chuyện ” lạ “, để tìm
hiểu
nguồn gốc. Nhưng các nhà sư, các bổn đạo, các
con
mình, không những ngày nay, mà có thể là từ sau năm 1945
(tôi chỉ ước đoán) cũng cho là ” lạ “, nên đã có người
muốn giải thích cho hợp tình, hợp lý, như chuyện ” Trầu
Cau ” hay chuyện ” Vọng Phu “, mà sinh ra chuyện ” tình ” ở trên.
(Xin xem giải thích của tôi, ở phần IV, Chánh Sử, ở dưới).

Vì ăn trầu, cau
với vôi, nước miếng hóa ra đỏ là một chuyện ” lạ ” (thật
ra, đây chỉ là một phản ứng hóa học), rồi bà con mình
cố gắng giải thích, từ đó ta đã có những chuyện ” Trầu
Cau ” (có nhiều bản khác nhau), và rồi có những câu ca dao
rất thơ mộng như :

Có trầu mà
chẳng có cau,


Làm sao cho đỏ
môi nhau thì làm.
“.

Có nhiều tảng
đá có hình giống như một thiếu phụ bồng con. Bà con mình
cũng lấy làm ” lạ “, rồi đặt ra những chuyện ” Vọng Phu
” (có nhiều bản khác nhau), và rồi cũng có những câu thơ
trữ tình như :

” Thương ai tấc
dạ vàng son,

Bế con lên đứng
đầu
non đợi chồng.

Trăm năm vẹn chữ
tâm đồng,

Ngàn năm hóa đá
tạc lòng trung trinh “. (Vũ Thanh).

i) Tạm kết luận.

Vì thấy Long Vị
của Hòa Thượng Liên-Hoa và Thần Vị của Công Chúa Long-Thành
được đặt kề nhau ở bàn thờ Tổ, tại chùa Từ Ân, mà
không tìm rõ nguyên nhân, nên chuyện của Hòa Thượng Liên-Hoa
và của Công Chúa Long-Thành, được kể trong cuốn LSPGĐT,
chỉ là một giai thoại. (Xin xem giải thích của tôi, ở phần
IV, Chánh Sử, ở dưới). Ngay cho chuyện tịnh thất bị cháy,
nhục thể của Hòa Thượng Liên-Hoa bị thiêu cũng chỉ là
những nghi vấn.

Cũng vì có chuyện
nầy ở cuốn LSPGĐT mà hai nhân vật lịch sử đã được
dân chúng, giáo hội Phật Giáo Việt Nam, cùng cả một dòng
họ
tôn kính, bị phạm đến thanh danh, đạo đức. Thật là
một điều đáng tiếc ! (Xin xem trên Internet, có rất nhiều
sách, bài viết dựa theo cuốn LSPGĐT, để phạm đến thanh
danh
của hai vị, tuy lời lẽ có phần ôn tồn và tỏ ra thông
cảm
).

4) Cuốn Thiền
Việt Nam của Thích Thanh Từ.

Trong cuốn nầy,
tác giả tự nhận là về phần Thiền Sư Thiệt-Thành – Liễu-Đạt
– Liên-Hoa, tác giả đã trích trọn ở cuốn LSPGĐT của Nguyễn
Hiền Đức. Thật thế, ở phần nầy, trong sách Thiền Sư
Việt Nam
, mỗi chữ, mỗi câu đều giống hệt trong cuốn
LSPGĐT.

Sở dĩ tôi đưa
cuốn TSVN vào đây vì ông Như Điển có đề cập tới trong
cuốn tiểu thuyết của ông ta.

III
– Cuốn tiểu thuyết Chuyện tình của Liên Hoa Hòa Thượng
của Thích Như Điển.
1) Tác giả.

Theo Chùa Viên Giác
ở Đức, ông Như Điển là một thầy tu rất thông thái, học
rộng
biết nhiều. Ông biết lắm ngoại ngữ như tiếng Pháp,
tiếng Anh, tiếng Đức, tiếng Nhật, tiếng Phổ Thông Trung
quốc
, cũng như cổ ngữ, như chữ Hán, chữ Phạn, chữ Pali…,
và có nhiều bằng cấp, như Cử Nhân Giáo Dục và Cao Học
Phật Giáo. Ông có trách nhiệm trong nhiều hội Phật Giáo
ở Hải Ngoại và thủ tọaNiệm Phật Đường Viên Giác
tại Hannover, Đức Quốc. Ông đã dịch nhiều kinh sách như
Tịnh
Độ Tông
Nhật Bản, Thiền Lâm Tế Nhật Bản, Đại Đường
Tây Vực Ký
…, và đã sáng tác các chuyện tiểu thuyết,
như Chiên Sĩ Áo Vàng, Người Xuất Gia, Đã Một Lần Như
Thế
… Ông xin tỵ nạn tại Đức năm 1977. (Nguồn : tayphuongtinhdo.com,
và Wikipedia).

Thật tình, tôi
chưa có hân hạnh đọc các bài dịch và các bài sáng tác
của ông Như Điển. Có chăng, vì hiếu kỳ, tôi có đọc qua
Chuyện tình của Liên Hoa Hòa Thượng
, nhưng không đọc
hết cả cuốn tiểu thuyết nầy.

2) Cuốn Tiểu
Thuyết Chuyện Tình của Liên-Hoa Hòa Thượng. CTLHHT.

Như đã trình ở
trên, tôi chỉ đọc thoáng qua cuốn tiểu thuyết Chuyện
tình của Liên-Hoa Hòa Thượng
– CTLHHT, (Nhà Xuất Bản Chùa
Viên Giác, Hannover, Đức Quốc, 2011), chẳng những đọc thoáng
qua, mà có hàng trăm trang, tôi cũng không đọc đến.

Cuốn tiểu thuyết
dày 632 trang, gồm 12 chương. Trong chương thứ 12, ông Như Điển
cho biết ” trong khi tịnh tu, nhập thất tại Tu Viện Đa Bảo,
Úc Đại Lợi lần thứ 7 “, ông đã phóng tác ra cuốn tiểu
thuyết nầy. Ông viết : ” Khi đọc đến trang 231 (cuốn LSPGĐT)
thì câu chuyện của Hòa Thượng Liên Hoa lại hiện ra trước
mắt
mình. Đây là một câu chuyện hay, có thật, có thể
là 98%, tôi tin như vậy
, vì có 2 long vịbài vị của
Hòa Thượng và Hoàng Cô tại Chùa Từ Ân là bằng chứng.
Do đó tôi nảy ra ý định là nên phóng tác từ chuyện này
thành một quyển tiểu thuyết lấy tên là “Chuyện tình của
Liên Hoa Hòa Thượng”.

Ông tự nhận là
các thư từ (thư tình) và chiếu chỉ đều do ông ” sáng tác
” ra (CTLHHT, trang 624, 625), ông cũng tự nhận là ông ” rất
thận trọng cho mọi việc, nhất là phương diện lịch sử
.”
(CTLHHT, trang 627)…

Văn phong của cuốn
tiểu thuyết nầy là văn phong của thế kỷ thứ 21, rất ”
thời thượng, đương đại “. Tiếu thuyết dày 632 trang vì
thường chép theo nguyên văn các sự tích các chùa, các vị
Thiền Sư, các Chúa Nguyễn, các bài kệ, những sắc phong Tăng
Cang
, Trú Trì…, ở cuốn LSPGĐT. Một số Phật Pháp thì trích
ở cuốn
Phật Quang Đại Từ Điển của Hòa Thượng
Thích Quảng-Độ dịch. Các kinh xưa và nay, như kính Sám Hối
: ” Đệ tử kính lạy, Đức Phật Thích Ca, Phật A Di Đà…”,
cùng những bài ca dao, tục ngữ, bài thơ, bài văn của các
văn nhân, thi sĩ, như Nguyễn Du, Tản Đà, … nói về tình
yêu giữa trai gái, cũng được đưa thêm vào để gán cho các
nhân vật của cuốn tiểu thuyết, tụng niệm hay giãi bày
tâm sự…

3) Ý kiến của
tôi.

Trước hết để
tránh sự hiểu lầm, tôi xin trình là tôi đã quy y, tôi là
một phật tử, một phật tử nhỏ bé, nghĩa là tôi không
biết nhiều về Phật Pháp, Kinh Điển, chứ đừng nói gì
về các giới luậtchư tăng, chư ni phải giữ ở chốn
thiền môn.

Tôi không biết
trong lúc ” tịnh tu, nhập thất “, chư tăng, chư ni phải tu
học
, hay để thì giờ viết tiểu thuyết ?

a) Sự thật 98
%.

98 % không phải
là 100 %, nghĩa là chuyện không có thật, mà đã không có thật
thì 98 % hay 50 % hay 0 % cũng như nhau. Thế mà ở chương 11,
ông Như Điên khẳng định ” Câu chuyện thật về Hòa
Thượng
Liên Hoa ” !

b) Thận trọng
về phương diện lịch sử.

Ông Như Điển nói
là ông ” thận trọng về lịch sử “, nhưng sự thật thì ông
không thận trọng gì cả. Nói về các nhân vật lịch sử,
mà ông Như Điển không tra cứu sách vở, ông viết một cách
rất bừa bãi, ông đã cho :

– Hoàng Hậu Hiếu-Khang
còn tại thế, ít nhất cũng vào năm 1817, để nghe Hòa Thượng
Liên-Hoa giảng về Phật Pháp (CTLHHT, chương 3), trong khi sự
thật
là Hoàng Hậu Hiếu-Khang đã băng (mất) năm Tân-Mùi
(1811) (Đại Nam Liệt Truyện, tập 2, trang 21). Đã lầm lẫn
Thừa-Thiên Hoàng Hậu với Thuận-Thiên Hoàng Hậu (CTLHHT, trang
283)…

– Hoàng Cô và Công
Chúa
Long-Thành là hai người khác nhau. Hoàng Cô là em vua Gia
Long (CTLHHT, trang 102), và Thái Trưởng Công Chúa Long-Thành là
con vua Gia Long (CTLHHT, trang 105)… Sự thật là Thái Trưởng
Công Chúa Long-Thành và Hoàng Cô chỉ một người. Bà là chị
cả, cùng mẹ với Thế-Tổ. (xem NPTTP, trang 227, hay BAVH, 1923,
tập 3, bản đồ số XLVI, về Lăng Thiên-Thụ, Lăng của Thế-Tổ).

– Chùa Giác Hoàng
Nội Cung (CTLHHT, trang 379). Ở Huế có thành Huế (Đô Thành
hay Kinh Thành) ở trong thành nầy có các cơ quan hành chánh
như lục bộ…, và có dân ở. Nội thành (thường là nói
là trong Nội, đó là Hoàng Thành, ở trong Kinh Thành), ở đây,
chỉ có các quan, vào chầu triều để làm việc, được vào
mà thôi, chứ không được ở; ở đây chỉ có những nhân
viên, người trong Hoàng Tộc tạm ở (không được đem theo
gia đình vào) để lo coi sóc các cơ sở, và một số quân
lính canh giữ Hoàng Thành. Đại Nội (Tử Cấm Thành hay Cung
Thành), ở đây, có các nội cung, do những cung nhân và thái
giám
coi sóc, không ai được vào, trừ có chiếu chỉ đặc
biệt
. Sự thật chùa Giác Hoàng nằm ở trong thành Huế, gần
cửa Thượng Tứ (hiện giờ thì không còn chùa nầy nữa),
chứ không nằm trong Nội và trong Đại Nội. Ở Đại Nội
có chùa (am) Phước Thọ, do các Sư Cô đảm nhiệm. Chùa Giác
Hoàng
do Thánh-Tổ xây năm 1839…

Còn rất nhiều
nữa, nhưng tôi không trích ra, làm bài viết quá dài, và vì
tôi không đọc hết cuốn tiểu thuyết.

c) Đã đọc cuốn
LSPGĐT, mà còn lẫn lộn ngược xuôi.

Thiền Sư Phật-Ý
Sư Phụ của Hòa Thượng Liên-Hoa (CTLHHT, trang 351), trong
khi cuốn LSPGĐT cho là Thiền Sư Phật-Ý và Thiền Sư Liễu-Đạt
(Liên-Hoa) là sư huynh, sư đệ cùng tông phái Lâm Tế (LSPGĐT,
Tập II, trang 268)…

Thiền Sư Viên-Quang
Sư Đệ của Thiền Sư Liên-Hoa (CTLHHT trang 364), trong khi
LSPGĐT cho là Thiền Sư Viên-Quang quy y, thọ giáo với Thiền
Phật-Ý (LSPGĐT, Tập II, trang 293), nghĩa là Thiền Sư Liên-Hoa
là Sư Thúc của Thiền Sư Viên-Quang…

Thôi thi khó mà
trích ra cho hết những cẩu thả viết về lịch sử, cùng
sự lẫn lộn ngược xuôi, trong cuốn tiểu thuyết nầy !

Tôi có cảm tưởng
là, thay vì đọc cuốn LSPGĐT để học hỏi, tìm hiểu thêm
các Đại Danh Tăng, các Đại Thiền Sư đã làm lịch sử vẻ
vang
cho Giáo Hội Phật Giáo Việt Nam, thì ông Như Điển, khi
đọc đến những trang 231, đã hoa mắt và chỉ thấy có câu
chuyên nầy mà thôi…

d) Đã chạm tới
thanh danh của chốn Thiền Môn.

– Ngay cả ngày nay,
trong một gia đình lễ giáo, con cái không được ” nghe lóm
” (nghe lỏm, nghe lóng) chuyện của cha mẹ, thế mà trong CTLHHT
(trang 369) có câu ” Cả 2 chú Mật Đĩnh và Mật Hạnh đều
ra chiều đắc ý khi nghe lóm được câu chuyện trao đổi giữa
hai vị quan nầy “…

– Tả những chuyện
nghe lómbàn tán thầm thì về chuyện tình, giữa các chú
tiểu
ở chốn Thiền Môn (CTLHHT, trong những trang 372 và tiếp
theo
).

– Dùng những danh
từ dung tục, như ” món ngon, vật lạ ” để chỉ cái gì là
tình, là yêu (CTLHHT, trang 386) ; ” cả thân dâng hiến ” (CTLHHT,
trang 420), và có thể còn nhiều nữa, vì tôi không đọc hết
cuốn tiểu thuyết.

Với những điều
trên, chẳng những thanh danh của các Thiền Môn bị phạm mà
cũng phạm đến đạo đức tu hành của các vị Đại Tăng
chân tu. Càng đọc cuốn CTLHHT, tôi càng ớn lạnh !

e) Chêm thêm tiếng
Anh, tiếng Pháp, tiếng Đức…, và… dịch sai chữ Hán chăng
?

Như trên, ở phần
tác giả ” lấy theo thông tin của chùa Viên Giác ở Đức,
thì ông Như Điển rất thông thái, rất rành nhiều ngoại
ngữ. Nên có lẽ viết tiếng Việt, sợ độc giả chưa hiểu
thấu tâm can của ông, nên ông phải chêm thêm ngoại ngữ,
như ở trang 622, ” Peaceful Death and Joyful Rebirth (?) ” ; ở trang
222, ” Manger pour vivre et non vivre pour manger (?) ” ; ở trang 145,
“Nirvana ist weder Form noch Gestalt.Alle Phänomen* sind unbeständig;
alle Phänomen* sind unsicher (?) “…, và tất nhiên có chữ Hán
(âm Hán-Việt), chữ Pali, chữ Phạn (latinh hóa),…, rồi để
cuối cùng, làm cho những độc giả kém hiểu biết như tôi,
về ngoại ngữ và cổ ngữ, phải lầm to, như ở trang 394,
hai chữ ” Nhập Thất 入 室 ” ông Như Điển đã giải thích như sau : ” Thất đây có nghĩa
là chỗ ở, mà cũng có nghĩa là 7 ngày…” !

* Thiếu chữ ” e
” trong từ Phänomen nầy chăng ?

f) Đại ngôn.
Cao ngạo.

Hai nhân vật lịch
sử
đã được dân chúng, giáo hội Phật Giáo Việt Nam, cùng
cả một dòng họ tôn kính. Tôi tin ông Như Điển, về đạo
đức
cũng như về tu học, không bằng hai vị đó, thế mà
ông Như Điển đã đại ngôn, cao ngạo :

– Ông bịa đặt
chuyện tình, rồi đem chuyện ” Tăng sĩ trẻ với cô
lái đò ” để dạy đời Thiền Sư Hòa Thượng Liên-Hoa. (CTLHHT,
trang 354)

– Ông dám cho đạo
đức
của ông còn hơn đạo đức của Thiền Sư Hòa Thượng
Liên-Hoa : Trong bài ” Hoàng Cô tình sử ” của Thiện Giới Hoa
Lan (xin xem trên mạng), bà Hoa Lan viết : ” … nếu trường
hợp
của Hòa Thượng (ông Như Điển) rơi vào tình trạng
như thế, Thầy giải quyết làm sao ?
Hòa Thượng (ông
Như Điển)
cười thật tươi, trả lời rằng, đời
tôi không bao giờ có chữ Nếu ! Thật ra trong đời tu của
tôi cũng có rất nhiều người yêu tôi. Nhưng quý vị thấy
đó ! Giờ này tôi vẫn còn ngồi nơi đây.
“.

– Không biết ông
Như Điển lấy tư cách gì, để một khi bịa đặt chuyện
tình ở chốn thiền môn, mà dám ” thăng hoa ” Hoàng Cô ! (CTLHHT,
trang 624).

g) Dịch cuốn
Đại
Đường Tây Vực Ký
.

Để tìm kiếm tài
liệu
về Hòa Thượng Liên-Hoa trên Internet, tình cờ, tôi thấy
bài ” Đại Đường Tây Vực KýPhê bình bản dịch của
Thích Như Điển – PBĐĐTVK ” của Triệu Minh Di. Bài có 61 trang.
[Nguồn : thongtinberlin.de].

Tôi không biết
chữ Hán, không đọc cuốn sách dịch Đại Đường Tây
Vực Ký
(dịch từ chữ Hán ra chữ Việt) của ông Như
Điển và tôi cũng không biết kinh Hoa Nghiêm. Nhưng theo
Triệu Minh Di thì ông Như Điển, vì không hiểu chữ Hán, như
ông đã tự khoe; hiểu sai kinh Hoa Nghiêm, như các nhóm chữ”
Tập Định “, ” Dược Xoa “, ” Kiếp Sơ “,
Vô Già Đại Hội “, mà một người tu học trên 40
năm phải biết, thế mà ông Như Điển cũng tự cho mình là
hòa thượng, nên Triệu Minh Di đã nói ông Như Điển là ”
ngu dốt “, ” thất học “, ” thất tu “, ” Như Điển liệng rác
vào mặt mọi người…”… Tôi thấy lời lẽ của Triệu Minh
Di hơi ” nặng “, nên tìm đọc vài trang của cuốn PBĐĐTVK,
và tra lại các Từ Điển Hán-Việt, cùng cuốn Từ Điển
Bách Khoa Nho-Phật-Đạo – TĐBKNĐP, của Lao Tử, Thịnh Lê (Nhà
Xuất Bản Văn Học, Hànội, 2001), thì thấy lời nói của
Triệu Minh Di cũng không phải là vô lý. (Xin xem thêm ” Thư
trả lời của Minh-Di về việc phê bình bản dịch Đại
Đường Tây Vực Ký
của ông Như Điển “, ở trên mạng).

h) Tạm kết luận.

Viết đến đây,
tôi muốn xóa bỏ hết những đoạn trên, nói về ông Như
Điển (từ a đến g), vì Chuyện Tình của Liên-Hoa Hòa Thượng

một chuyện tào lao, do một thầy tu tào lao viết, nên thật
tình, tôi không muốn để ý tới.

Viết tiểu thuyết
là quyền tự do tối thượng của ông Như Điển, nhưng ông
đã bịa đặt câu chuyện, thì cũng nên bịa đặt các nhân
vật trong cuốn tiểu thuyết của ông, cớ chi ông lấy danh
hai nhân vật lịch sử mà được người đời tôn kính, để
rồi có sự bàn tán không hay, xúc phạm đến thanh danh của
hai vị, và có thể đến cả thanh danh của các Cao Tăng, Đại
Đức
ngày nay. Trên mạng có bài ” Hoàng Cô tình sử ” của
Thiện Giới Hoa Lan, cùng một số bài khác. Bà Hoa Lan cũng
” gợi ý ” (dạy) cho Thiền Sư Liên-Hoa những phương cách để
giáo hóa ” Hoàng Cô, thay vì tự thiêu. Bà Hoa Lan nói ” Phật
pháp
rất nhiệm màu (nhiệm mầu ?), cái gì cũng giải được
chỉ sợ ta không quyết tâm đấy thôi.
” ! Còn về phần
Hoàng Cô, thì bà đã thốt : ” Nếu xét về nghiệp duyên
tình ái Bà (Hoàng Cô) là cao thủ đáng mặt thượng thừa
…”
!

Nhưng vì tôi đã
để ra thì giờ trích những cái sai lầm rất to lớn trong
cuốn tiểu thuyết, tuy như đã trình trên, tôi không đọc
hết cuốn tiểu thuyết nầy, để độc giả thấy rõ sự
phạm, vô căn cứvô căn cớ, của ông Như Điển, đến
thanh danh của hai nhân vật lịch sửcho đến bây giờ
một số đông quần chúng vẫn còn ngưỡng mộ, cùng sự phạm,
có thể có, đến các chốn Thiền Môn thanh tịnh, và cả đến
thanh danh của các Danh Tăng, Đại Đức hiện nay. Nên tôi không
xóa đi.

IV
– Chánh Sử và một vài tài liệu đứng đắn.
1) Theo Đại
Nam Liệt Truyện Chính Biên – ĐNLTCB, Tập 2, Quyển 3 (Nhà Xuất
Bản Thuận Hóa, Huế, 1993), trang 65, ghi :

” Long-Thành Công-Chúa
Ngọc-Tú : Con gái lớn của Hưng-Tổ, là chị cùng mẹ với
Thế-Tổ. Khi biến loạn năm Giáp-Ngọ (1774), theo Hiếu-Khang
Hoàng-Hậu, ẩn nấu làng An Du (7). Mùa xuân năm Kỷ-Hợi (1779),
theo Hậu vào Gia Định, gả cho Cai Cơ là Lê Phước Điển.
Năm Quý-Mão (1783), chiến dịch ở đảo Diệp Thạch, Điển
bị giặc bắt được, chửi giặc rồi bị giết chết. Chép
rõ ở truyện Điển. Khi ấy Chúa còn trẻ tuổi, giữ tiết
không đi lấy chồng nữa. Chúa từng nói rằng : Điển làm
bề tôi, biết chụi chết vì tiết nghĩa, ta là vợ há nên
biến đổi tiết nghĩa, khi nào lấy lại được Kinh Thành
cũ, ta lập tức xuất gia thờ Phật mà thôi. Thế-Tổ khen
về chí tiết liệt của Chúa. Buổi đầu năm Gia-Long, Thế-Tổ
làm nhà tại xã Dương Xuân để Chúa ở. Chúa thường xin
gọt tóc, Thế-Tổ không bằng lòng cho.

(7) : [An-Du
安 遊 ở
tỉnh Quảng-Trị, là quê của Thái Hậu Hiếu-Khang.]

Năm Minh-Mạng thứ
tư (1823) là năm Quý-Mùi, mùa đông, Chúa mất, thọ 65 tuổi.
Trước đây Chúa bệnh nặng, Thánh-Tổ Nhân Hoàng Đế đến
thăm, Chúa khóc nói rằng : cắt tóc thờ Phật, đấy là ý
muốn
lúc bình sinh của vị vong nhân (8) nầy, có chí muốn
mà chưa làm được, duy Hoàng Đế làm cho trọn vẹn ý muốn
ấy, sau khi chết rồi, chớ có để tóc, liệm bằng áo cà
sa
, thế là hồn ở dưới chín suối, xong được ý muốn ấy
rồi. Thánh-Tổ lấy làm cảm động. Khi Chúa mất rồi, Thánh-Tổ
đem lời nói của Chúa bảo Kiến An Công là Đài. Kiến An
Công Đài tâu rằng : Thân thể tóc da là của cha mẹ để
cho, lúc mới sinh ra trọn vẹn, lúc chết vẫn giữ được
trọn vẹn là lễ đấy. Hoàng Đế trị vì thiên hạ nên chuộng
đạo chính, truất bỏ dị đoan, lời Chúa xin thế không thể
theo được. Thánh-Tổ cho là phải, bèn sai Ông (Đài) cùng
Diên Khánh Công Tấn hội đồng với Bộ Lễ sửa việc tang,
cấp cho nhiều của (để trị tang). Nghỉ coi chầu năm ngày,
sai quan đến tế một đàn, tặng là Long-Thành Thái Trưởng
Công Chúa, tên thụy là Trinh-Tĩnh, phụ táng cạnh Lăng Thụy-Thánh
(9)… Ngày an táng, Thánh-Tổ nghỉ coi chầu một ngày, mặc
áo trắng đi đưa.

(8) : [Vong nhân :
chỉ người đàn bà góa.] (9) : [Lăng của Thái Hậu Hiếu-Khang.]

Trước kia, năm
Gia-Long thứ 11 (1812), sửa làm Lăng Thụy-Thánh, Thế-Tổ dụ
rằng : Trưởng Công Chúa thờ mẹ có hiếu, kính giữ đạo
làm con lúc gian nan để tiếng thơm như ngọc uyển, ngọc diễm,
đặc biệt chuẩn cho dựng sinh phần ở bên Lăng. Lại dự
đặt nơi phụ hưởng ở một gian bên tả Tẩm Điện (Đền
Thờ Lăng Thụy-Thánh). Đến đây mất, bèn phụ táng ở đấy.
Năm thứ năm, phụ hưởng ở một gian bên tả, hướng Tây.
Không có con thừa tự, lấy Thường Tín Công Cự coi việc
thờ tự. ”

2) Theo Bulletin
des Amis du Vieux Huê – BAVH, Tập 3 (Juillet-Septembre), 1915, trong
bài ” La Pagode Quấc-Ân (10) – Les Divers Supérieurs ” do Linh Mục
Léopold Cadière viết, trang 308, 309, ghi :

(10) : [Chú ý chữ
” Quốc “, ở Huế lúc trước, viết Quấc.]

Bài viết bằng
tiếng Pháp, tôi cố gắng dịch ra tiếng Việt, và để cho
khá trung thành, tôi ghi theo đây những chữ Hán, như nguyên
bản :

” Sự trùng tu chùa
Quấc-Ân được gắn liền với tên của một vị Công Chúa
nhà Nguyễn, Công Chúa Ngọc-Tú 玉 琇 , hay Long-Thành-Công-Chúa
隆 城 公 主 ,
Bà là con cùng mẹ và là chị cả của vua Gia-Long. Bà đã
theo mẹ và cả (toute) triều đình vào Nam, khi Bắc quân (Tonkinois)
đến Huế. Bà được gả cho Cai-Cơ Lê-Phúc-Điển
黎 福 日典 (có
nơi cho âm Thiển). Ông ta đã chiến đấu dũng cảm với Tây-Sơn,
rồi bị bắtbị giết. Bà mất chồng khi còn trẻ, và
không con, Bà không muốn tái giá. Bà hay đi lễ (fréquenter)
chùa Từ-Ân 慈 恩 寺 , ở đây Trú Trì
(Supérieur, Tọa Chủ, Trú Trì ?) Liên-Hoa
蓮 花 , còn gọi là
Thiệt-Thành 寔 誠 hay
Liễu-Đạt 了 達 , khuyên (persuader : thuyết phục) nên giữ ” Tam Quy
三 皈 , Ngũ Giới
五 戒 . “.

Vị Sư nầy, quê
ở vùng quanh Huế (environs de Hué) chăng ? Ông có tu tại chùa
Quấc Ân trong vài năm chăng ? (11) Dầu sao đi nữa thì (Toujours
est-il), theo các tài liệu biên niên (annales) còn lưu trữ
chùa (Quốc-Ân), Hòa Thượng Liên-Hoa có dặn dò Bà, khi nào
hoàn cảnh cho phép trở về Huế, thì đừng quên (lo cho ?)
chùa Quấc Ân. Bà về Huế khoảng 1801, và mất năm 1823, thọ
65 tuổi.

(11) : [Nếu Hòa
Thượng
Liên-Hoa có làm Trú Trì ở chùa Thiên Mụ, thì có
lẽ Linh Mục Cadière đã nói ở đây, vì trong bài nầy, tác
giả
có đề cập tới sự liên hệ mật thiết giữa các Tăng
Cang
, Trú Trì chùa Thiên Mụ với các Trú Trì chùa Quốc Ân.]

Năm 1805, Bà chỉ
định
(charger) hai Đại-Sư 大 師 Trí-Hải
智 海 và Chính-Văn
正 聞 xây lại
chùa Quấc-Ân, cùng triệu tập một số Tăng Chúng cho chùa.
Nhân đó, Bà cúng 300 quan (ligature, xâu tiền, quan tiền ?)…
Ngôi chùa mới khá đơn giản. Theo sự đồn miệng, thì đó
cũng chỉ là một am-tranh (12) (chữ trong bài viết), nhưng
dầu sao, tác phẩm của Ngài Nguyên-Thiều đã được hồi
sinh
. Vì thế, tên của Trú Trì (Supérieur) Liễu-Đạt và Công
Chúa
Long-Thành được ghi một cách trịnh trọng (en bonne place)
trong sổ ghi danh các vị Sư và các ân nhân của chùa.

(12) : [Am tranh đây
chắc là một cách nói để chỉ nơi các Sư tu hành. Số tiền
300 quan là một số tiền khá lớn thời bấy giờ, chắc ngôi
chùa mới cũng là một cái am nhỏ, xây bằng gạch, mái lợp
ngói, chứ không phải một cái am vách đất, lợp tranh.]

Người ta con giữ
lại ở chùa 5 bức chân dung. Các chân dung được đặt ở
bàn thờ dành cho các Danh Sư đã tu tại chùa, trong đó có
chân dung của Ngài Liễu-Đạt, còn gọi là Liên-Hoa… “.

Hết trích dịch.

3) Theo Bulletin
des Amis du Vieux Huê – BAVH, Tập 3 (Juillet-Septembre), 1923, trong
bài ” Le Tombeau de Gia-Long ” do Linh Mục Léopold Cadière viết,
trang 343, 344, ghi :

” … Tẩm của Công
Chúa
Ngọc-Tú…[bản đồ Lăng Thiên-Thụ, Lăng của Thế-Tổ,
số XLVI, ghi Tẩm của Hoàng Cô, chị cả của vua Gia-Long]…
khi đến những ngày kỵ (của Hoàng Hậu Hiếu-Khang), thì chủ
tế lạy trước bàn thờ của Mẹ vua Gia-Long, rồi quay sang
bàn thờ của người con gái (Công Chúa Long-Thành) vái 4 vái.
Trong khám thờ (Công Chúa Long-Thành), sau bàn thờ không có
Thần-Chủ (tablette funéraire) (13).

(13) : [Thần Chủ
được thờ tại Phủ Thường Tín Quận Vương (Nguyễn-Phước
Cự), ở làng Xuân-Vinh, huyện Phú-Lộc, Thừa-Thiên. Ở Điện
Thoại-Thánh chỉ có Thần Vị của Công Chúa.]

Tẩm là một cái
Tháp
(stûpa) có 4 tầng
… Vòng thành phía trong dài 15 m, rộng
9 m, cao 1,50 m… Vòng thành ngoài dài 24 m, rộng 16 m, cao 2,40
m…”.

V
– Vài sự kiện lịch sử.
1) Trưởng Công
Chúa
.

Thái Hậu Hiếu-Khang
có 3 người con trai, ngoài Thế-Tổ, là Hải-Đông Quận Vương
Nguyễn-Phước Đồng 日同 và
Thông-Hóa Quận Vương Nguyễn-Phước Thiển 日典
(có
nơi cho âm Điển), và một người con gái duy nhấtCông
Chúa
Long-Thành. Ông Đồng bị Tây Sơn hại năm 1777 (cùng lúc
với Duệ-Tông Nguyễn-Phước Thuần 淳 và Tân Chánh Vương
Nguyễn-Phước Dương 暘
), Ông Thiển bị Tây Sơn bắt và bị hại năm 1783, tại đảo
Diệp-Thạch (cùng lúc với Ông Lê Phúc Điển, chồng của
Công Chúa Long-Thành).

Vậy ngoài Công
Chúa
Long-Thành và Thế-Tổ, thì vào những năm 1800, Thái Hậu
Hiếu-Khang không còn người con nào khác nữa. Từ An-Du cho
đến
những lúc gian lao tại miền Nam, chỉ có một tay Công
Chúa
lo cho Thái Hậu. Cũng vì thế, nên ngay cả sau khi chồng
mất, Bà còn trẻ, muốn đi tu, nhưng còn mẹ già, nên phải
ở nhà lo phụng dưỡng. Sau khi Thái Hậu băng (mất) năm 1811,
Bà lại muốn xuất gia, nhưng Thế-Tổ không vui, vì Bà rất
có công với Thái Hậu trong những buổi ly lạc, nên muốn
giữ Bà lại để phụng dưỡng. Thế-Tổ xem Bà như một người
mẹ thứ hai sau khi Thái Hậu băng. Thánh-Tổ vâng chỉ của
Thế-Tổ, nên rất kính trọng Bà, và cũng không vui, khi Bà
xin đi tu, hầu thay mặt Thế-Tổ để phụng dưỡng Bà. Có
chăng là khi Bà mất, thì Thánh-Tổ xây Tháp cho Bà, xem Bà
như một vị xuất gia vậy.

2) Thần Vị của
Công Chúa thờ ở bàn thờ Tổ ở các chùa.

Chuyện là, nền
chính trị của nước ta xưa, theo Khổng Giáo, nghĩa là ” Quân,
Sư, Phụ “, vua là trên hết. Cho nên các Thánh Vị của các
vị Hoàng Đế đều được thờ tại chánh điện thờ Phật
(ở phía dưới bàn thờ Phật), Thánh Vị của các Hoàng Hậu,
Thần Vị của các Công Chúa, Hoàng Tử đều được thờ ở
bàn thờ Tổ (bàn thờ chánh, ở giữa, phía sau điện thờ
Phật
). Bằng chứng trong BAVH 1916, tập 4 (Octobre-Décembre), bài
” Chùa Diệu Đế ” của Cụ Nguyễn Đình Hòe, trang 395, cho
: Ở Điện Đại-Giác chùa Diệu Đế ” Ở chánh điện, bàn
thờ
phía trên thờ Tam Thế
三 勢 , bàn
thờ
phía dưới thờ Thánh Vị của Hiến-Tổ (Thiệu-Trị)…”,
hay trong BAVH 1917, tập 3 (Juillet-Septembre), bài ” Chùa Báo-Quốc
報 國 ” của
J-A Laborde, trang 238, nói bàn thờ chính giữa (bàn thờ Tổ,
sau điện thờ Phật) thờ Thánh Vị của Hoàng Hậu Hiếu-Khang,
người đã xây lại chùa Báo-Quốc, còn hai bàn thờ hai bên,
gần vách tường, thì thờ Long Vị các vị Hòa Thượng
Trú Trì

Ngay cho cả người
dân thường, như trong gia đình chúng tôi, Bà Cô Ngoại của
chúng tôi (em ruột Ông Ngoại của chúng tôi) là Cụ Hồ-Đắc
Thị Thể A. (chánh thất của Cụ Hiệp Tá Đại Học Sĩ Ưng
D.), Bà Nội của chúng tôi là Cụ Nguyễn-Xuân Thị Kh. và
Bà Ngoại của chúng tôi là Cụ Nguyễn Thị K. đã sáng lập
chùa Sư Nữ Diệu Viên, Huế (hiện ở đường Hồ-Đắc Di),
năm Khải Định thứ 9 (1924). Cụ Hiệp Tá Đại Học Sĩ Ưng
D. đã tâu xin cho Sư Bà Hướng-Đạo làm Khai Sơn Trú Trì của
chùa. Bài Vị của hai Cụ Hồ-Đắc Thị Thể A. và Nguyễn-Xuân
Thị Kh. được thờ ở bàn thờ Tổ (bàn thờ chính giữa,
sau điện Phật). Trên bàn thờ đó, ở giữa thờ Tổ Đạt-Ma,
bên phải thờ Bài Vị của Cụ Thể A. (mất năm 1942), bên
trái thờ Bài Vị của Cụ Thị Kh. (mất năm 1933). (Bà Ngoại
của chúng tôi mất năm 1949, tại Thanh Hóa, và lúc bấy giờ
đang còn chiến tranh, nên không thỉnh Bài Vị của Cụ lên
thờ ở chùa Diệu Viên). [Nguồn : Gia Phả Họ Hồ-Đắc (1942)
Gia Phả Phòng Vĩnh Quốc Công (1949)].

Chuyện là ở dưới
triều nhà Nguyễn, nhưng theo tôi, thì ngay cả các triều Lý
(1010), Trần, Lê, Hậu Lê – Chúa Trịnh – Chúa Nguyễn, đều
như thế cả. Xem tiendatguide/article/dinh-chua-mien-bac, trong
đó có nói Đức Trần Hưng Đạo được thờ ở chùa Thái
Cam, Hànội, hay Thái Sư Trần Thủ Độ và Phu Nhân là Bà Trần
Thị Dung, được thờ ở chùa Cầu Đông, Hànội…

Hiện bây giờ,
sau năm 1975, vì ” Thời Thế “, vì ” Đương Đại “, vì ” Thời
Thượng “, mà Thánh Vị của Hiến-Tổ, chẳng những không
được thờ ở dưới bàn thờ Phật, hay ở tại bàn thờ
Tổ
(sau điện Phật), tại chùa Diệu Đế, mà chỉ được
thờ ở bàn thờ bên hông, cùng với các Thần Vị của các
Công Chúa, Hoàng Tử (phía trái bàn thờ Tổ, sát vách tường,
và xoay mặt lại phía bàn thờ Tổ). Còn bàn thờ Tổ thì
để thờ Long Vị của các vị Tăng Cang, Trú Trì.

Bài Vị của Bà
Cô Ngoại và của Bà Nội của chúng tôi cũng chỉ được
thờ ở bàn thờ bên phải của bàn thờ Tổ, tại chùa Diệu
Viên
. Ở bàn thờ Tổ, ngoài Tổ Đạt-Ma, thì thờ Long Vị
của hai vị Trú Trì của chùa đã mất (vị thứ nhất mất
năm 1974, và vị thứ hai mất vào năm nào thì tôi không rõ).

Thánh Vị của Hoàng
Hậu Hiếu-Khang ở chùa Báo-Quốc có được thỉnh đi thờ
ở một bàn thờ khác hay không, thì hiện giờ, tôi không biết.

3) Long Vị của
Thiền Sư Hòa Thượng Liện-Hoa và Thần Vị của Hoàng Cô
ở chùa Từ-Ân.

Như đã trình trên,
Thần Vị của Hoàng Cô được thờ ở bàn thờ Tổ tại chùa
Từ Ân là một chuyện thường tình, Long Vị của Thiền Sư
Hòa Thương Liên-Hoa được thờ ở bàn thờ Tổ cũng là một
chuyện thường tình, hợp với phong tục của nước nhà đã
có từ lâu, hơn nữa, tuy Công Chúa không xuất gia, vì còn
bổn phận của người con gái trưởng độc nhất lo cho mẹ
già, nhưng đã có ý định đi tu, đã thụ Bồ Tát Giới, và
sau nầy, khi mất đi, Tẩm là một cái Tháp, dành riêng cho
các Đại Tăng, Đại Ni. Vậy Công Chúa cũng đưọc xem như
là một người đã xuất gia lúc còn tại thế.

Long Vị của Hòa
Thượng
và Thần Vị của Công Chúa được thỉnh kề nhau
bàn thờ Tổ, tại chùa Từ Ân, có thể vì hai vị đã
có công lớn với chùa, và đã tu học ở chùa trong cùng một
khoảng thời gian (các Long Vị và Thần Vị được xếp đặt
theo thứ tự thời gian, ở bàn thờ Tổ chăng ?), tuy Công Chúa
Long-Thành chỉ thường xuyên đến tu học ở chùa trong một
thời gian ngắn.

Chuyện mà hiện
giờ
, ta vẫn thấy như thế, chắc là các nhà hữu trách muôn
duy trì cổ tục, duy trì văn hóa xưa, hay vì ” Thời Thế Du
Lịch “, muốn đề cao những tàn tích cổ, để tạo một sự
” lạ ” mà thu hút du khách, cho nên Thần Vị của Hoàng Cô
không được thỉnh đi khỏi bàn thờ Tổ, như Thánh Vị của
Hiến-Tổ, ở chùa Diêu Đế, tại Huế, chăng ?.

Cũng vì thế mà
Nguyễn Hiền Đức đã viết vào cuốn LSPGĐT chuyện của Hòa
Thượng
Liên-Hoa trên. Bây giờ lấy giả thuyết : nếu Thần
Vị của Hoàng Cô được thỉnh gần một Long Vị (hay một
Thần Vị) của một Thiền Sư (hay của một Hoàng Tử, hay
của một người đàn ông) khác, thì đó, đối với đời
bây giờ cũng là một chuyện ” lạ “, và e rồi cũng sẽ có
những giai thoại tương tựa như chuyện của Hòa Thượng Liên-Hoa
Công Chúa Long-Thành trên…

4) Lấy một giả
thuyết
hão huyền.

Hòa Thượng Liên-Hoa
là một vị Thầy, một vị Tổ, một vị Thiền Sư chân tu,
đạo đức, nếu không thì làm sao Hòa Thượng được cấp
Độ Điệp, Giới Đao và thụ phong Tăng Cang sau một kỳ ”
thi tuyển “, mà hội đồng ” khảo thí ” gồm những Đại Sư
tài trí, chân tu, do Bộ Lễ tổ chức ? Còn Công Chúa Long-Thành
là ” cành vàng, lá ngọc ” (trong nghĩa trân quý) của Triều
Đình, của Hoàng Gia, tức phải có đức hạnh để làm gương
cho vua, cho chúa, cho triều thần, cho thần dân, chứ làm sao,
mà sau khi đã giữ tiết từ lúc 24 tuổi, để đến lúc 65
tuổi lại ” hôn ” tay của một vị sư đang tĩnh tâm trong một
tịnh thất ?

Hai người đức
hạnh
, chân tu như vậy và được cả nước biết đến, nếu,
lấy giả thuyết hão huyền là có tình cảm với nhau đi chăng
nữa, thì cũng ” sống để dạ, chết mang đi “, chứ đâu đi
làm những chuyện đường đột, để rồi phải tự thiêu
và uống độc dược !

VI
Kết Luận.
1) Cuốn LSPGĐT
của Nguyễn Hiền Đức
.

Theo sự phân tích
ở phần II về cuốn Lịch Sử Phật Giáo Đàng Trong,
cùng sự phân tích ở phần IV về Chánh Sử và vài sự kiện
lịch sử, cho chúng ta thấy rõ ràng chuyện của Hòa Thượng
Liên-Hoa trong cuốn LSPGĐT, là một chuyện không có thật
trong lịch sử
.

Cuốn LSPGĐT của
Nguyễn Hiền Đức là một công trình khảo cứu khá công phu,
nhưng tác giả đã dẫn chứng những tài liệu không chính
xác
, đã nghe những tin đồn miệng, đã lấy giả thuyết riêng
của mình, để giải thích những sự kiện lịch sử, vì vậy
giá trị của tác phẩm bị mất đi một phần khá lớn.
Thật là đáng tiếc cho cả một công trình khảo cứu !

thiếu sót trong
một tác phẩm dày 876 trang, là một chuyện thường tình. Nhưng
những thiếu sót quan trọng, như chuyện của Hòa Thượng Hải-Tịnh,
hay chuyện Hiệp Đức Hầu Nguyễn-Phước Thuần…, và nhất
là chuyện của Hòa Thượng Liên-Hoa đã gây rất nhiều tai
hại
lớn lao, bởi những chuyện ” tình ” đã lấy nguồn ở
cuốn LSPGĐT, được đăng tải đầy dẫy trên mạng Internet,
trên các sách báo, dính liếu (líu) đến hai nhân vật lịch
sử
tiếng tăm.

Tai hại cho thanh
danh
của Hòa Thượng Liên-Hoa và Công Chúa Long-Thành, hai nhân
vật lịch sử đã được dân chúng, giáo hội Phật Giáo Việt
Nam
, cùng cả một dòng họ tôn kính, mà còn tai hại cho thanh
danh
của các chốn Thiền Môn và các Tăng, Ni, hiện nay.

Một số Hòa Thượng,
vì không có phương tiện khảo cứu, muốn viết về lịch
sử
của các Thiền Sư cho bổn đạo, đã lấy tài liệu trong
cuốn LSPGĐT, nhưng khi nói đến Thiền Sư Liễu-Đạt – Thiệt-Thành
– Liên-Hoa, đến chuyện ” tình “, vì kính một vị Tổ, một
vị Thiên Sư chân tu, thì không ghi vào sách, mà chỉ nói ”
Thiền Sư viên tịch vào năm 1823 “. Xin xem một trong những
bài đó, ở các trang mạng, như ” Trang Nhà Quảng Đức ” hay
Thiền Viện Thường Chiếu “. Tất nhiên cũng có một số
nhà sư, thiếu suy nghĩ, đã lợi dụng chuyện trong cuốn LSPGĐT,
để trích dẫn trên các sách hay bài viết của mình.

2) Bài Người
Xuất Gia Đối Với Cha Mẹ Đẻ – NXGĐVCMĐ.

Cuốn CTLHHT thì
không nên nhắc đến nữa, nhưng ông Như Điển lại viết
thêm bài ” Người Xuất Gia Đối Với Cha Mẹ Đẻ ” (Xin xem
trên mạng Internet). Tôi chỉ đọc mấy hàng đầu, mà thấy
ông Như Điển cao ngạo làm sao, ông viết : ” Một vị xuất
gia
, ngoài kính lễ Tam Bảo ra không lễ lạy bất cứ tôn vị
nào khác, kể cả cha mẹ.
“. Tôi chắc đây không phải là
lời của Đức Thích-Ca dạy.

Ngoài ông Như Điển
ra, cũng có một số sư, với lời lẽ ôn tồn hơn, trích kinh,
dịch sách, giảng giải sự khiêm cung của phật tử, để
bào chữa ” tự tôn ” : ” … Khi tiếp xúc với chư tăng ni,
quí vị cưPhật Tử tại gia, (kể cả thân quyến của
chư tăng ni), thường đơn giản gọi bằng Thầy, hay Cô, (nếu
như không biết rõ hay không muốn gọi phẩm trật của vị
tăng nitính cách xã giao), và thường xưng là con, (trong
tinh thần Phật pháp, người thụ ít giới bổn tôn kính người
thụ nhiều giới bổn hơn, chứ không phải tính tuổi tác
người con theo nghĩa thế gian), để tỏ lòng khiêm cung, kính
Phật trọng tăng, cố gắng tu tập, dẹp bỏ bản ngã, dẹp
bỏ
tự ái, cống cao ngã mạn, mong đạt trạng thái: niết
bàn
vô ngã, theo lời Phật dạy

… Khi tiếp xúc
với quí vị cưPhật Tử tại gia, kể cả người thân
trong gia quyến, chư tăng ni thường xưng là tôi hay chúng tôi,
(hay xưng pháp danh, pháp hiệu, hoặc bần tăng, bần ni), cũng
có khi chư tăng ni xưng là Thầy, hay Cô, và gọi quí vị là
đạo hữu, hay quí đạo hữu… “.

Đi tu, chắc cũng
là một quyết định thanh cao, hàm chứa một lý tưởng hoàn
hảo
. Đi tu thì tâm hồn được trong sáng, an nhiên; tư thái
được bình thản, khoan dung độ lượng, và sau khi chết, theo
tín ngưỡng, được đạt cõi Tây Phương.

Nhưng nhũng người
” thường “, ” tại gia “, chắc họ cũng có một lý tưởng
thanh cao, một cuộc sống hoàn hảo vậy. Đừng nói gì cho
cao xa, nếu tất cả mọi người đều đi tu, và không có những
người ” thường “, ” tại gia “, thì làm gì có nhân loại ngày
nay !

” Cuộc thành bại,
hầu cằn mái tóc. Lớp cùng thông, như đốt buồng gan ” (Nguyễn
Gia Thiều). ” Thành ” đây không phải là đậu (đỗ) Tiến
, làm Bộ Trưởng, thăng Giám Đốc, mà ” Thành, Bại ” đây
chạy ăn từng bữa, cho chính mình, cho gia đình mình, cho
giáo dục, tương lai của con cháu mình. Hôm nay có ăn là ”
Thành “, không có ăn là ” Bại “.

Chắc chúng ta cũng
đồng ý, là một số lớn các Tăng, Ni, hiện nay, được thoát
khỏi
cảnh ” Thành, Bại, Cùng, Thông ” ghê gớm đó. Phần
nhiều các Tăng, Ni đều được phật tử cung phụng, có chùa
to cảnh lớn, để tu học. Một số tăng, ni thì mỗi năm ”
tịnh tu, nhập thất ” ở mỗi nơi khác nhau. Có năm, thì ở
Mỹ, ở Nhật, có năm, thì ở Canada, ở Thái Lan, ở Pháp,
Ấn Độ, ở Đức, ở Úc… Những sự tu học đó chắc
cũng phải đòi hỏi một sự tốn kém công của lớn lao. Ai
đã lo cho sự tốn kém đó, nếu không phải là do những người
” thường “, ” tại gia “, đã ” cằn mái tóc “, đã ” nát buồng
gan ” !

Đi tu thì được
miễn ” dẹp bỏ bản ngã, dẹp bỏ tự ái, cống cao ngã mạn
” chăng ?

Còn nói rằng ”
thụ nhiều giới “. Đã chắc gì hầu hết các tăng, ni đã
thực hành ” thụ nhiều giới “, hay chỉ nói ở trên giấy
tờ, ở trên miệng. Trên mạng, cùng báo chí trong và ngoài
nước, đã bao phen đăng tải những tin ” phá giới ” của một
số thầy tu.

Xuống tóc đi tu,
mới biết vài câu kinh, vài tiếng kệ, chưa phải là những
Tăng, Ni chân tu, mà đức hạnh đã làm gương cho nhân thế,
trí tuệ đã phổ độ chúng sanh, thì đã tự cao tự đại,
bắt phật tử phải gọi bằng thầy, bắt phật tử phải
tự xưng là con. Tôi là một phật tử nhỏ bé, như đã trình
trên, tôi đã nghe, tại Nice, một số linh mục trẻ tuổi,
xưng con với chúng tôi là những người đã ngoài sáu, bảy
mươi tuổi. Trong buổi nói chuyện tại Paris, ngày 15/04/2012,
Linh Mục Nguyễn Văn Khải đã tự xưng con, xưng cháu với
những người lớn tuổi.

Sự tu học của
các tu sĩ trong Công Giáo, chắc cũng đòi hỏi những nỗ lực
lớn lao, không thua kém gì so với sự tu học của các tu sĩ
trong Phật Gíáo.

Thật là đáng tiếc
cho một thầy tu, thay vì đem những lời dạy cao đẹp, bổ
ích của Đức Thích-Ca, mà hiện nay, cả toàn thể thế giới
đều tâm phục, khẩu phục, để làm lợi cho thế gian, thì
lại bịa đặt viết chuyện tình tào lao, không có thật,
để rồi, chẳng những phạm đến thanh danh của hai nhân vật
lịch sử, mà dân chúng, giáo hội Phật Giáo Việt Nam, cùng
cả một dòng họ tôn kính, ngưỡng mộ, mà còn phạm đến
các chốn Thiền Môn thanh tịnh, các vị Tăng Ni chân tu hiện
nay; lại còn cao ngạo đối với Cha Mẹ Đẻ, đối với phật
tử
.

Hành động đó
làm cho chúng ta phải suy nghĩ.

Nguyễn
Vĩnh-Tráng.

Tiết
Hạ chí, năm Con Rồng.

531
052 012 nvt*ttl*.

Long Vị của Hòa Thượng
Liên-Hoa và Thần Vị của Công Chúa Long-Thành, ở bàn thờ
Tổ
, tại chùa Từ Ân, Sàigòn.
[Nguồn : Di tích và Danh thắng
– Chùa Việt Nam – Xua và Nay – Chùa Từ Ân (quận 6)] :

Đánh giá

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to Top