Các Tiểu Sử Ngắn Gọn Của Dòng Hóa Thân

CÁC TIỂU SỬ NGẮN GỌN
DÒNG HÓA THÂN
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

Đức Dhakpa Tulku Rinpoche
Nguyên tác: “Venerable Dhakpa Tulku Rinpoche”
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

Đức Dhakpa Tulku Rinpoche được xác nhậnhóa
thân
của Gaden Tripa (1) Lobsang Dhargye Rinpoche thứ 49 – vị lãnh đạo truyền
thống
Geluk của Phật giáo Tây Tạng

Thân mẫu ngài là Shelo
Dolma đã hạ sinh ngài năm 1926 tại Kongpo, miền nam Tây Tạng. Khi ngài được năm
tuổi, Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 đã xác nhận ngài là hóa thân của Gaden Tripa
Lobsang Dhargye Rinpoche thứ 49. Sau khi được xác nhận không lâu, ngài được đưa
tới
Lhasa để làm lễ đăng quang, có cha mẹ và những vị trợ tá trong đời trước
của ngài đi cùng. 

Sau đó ngài trở về Tu
viện
riêng Dhakpa Namdol Ling ở Meldro Gungkar, phía bắc Lhasa, ở đó ngài nhận
những giới nguyện Sa Di và bắt đầu học thuộc lòng những bài cầu nguyện đầu tiên
của ngài. Khi Dhakpa Rinpoche được mười tuổi, ngài tới Học viện Sera Mey và
trải qua mười sáu năm ở đó để nghiên cứu triết học Phật giáo. Năm 26 tuổi, ngài
thành công trong kỳ khảo sát Geshe và nhận thứ hạng cao nhất là Lharampa Geshe.
Năm 1952, Rinpoche vào Học viện Mật thừa Gyuto và trải qua bảy năm nghiên cứu
toàn bộ các nghi lễ Mật thừa, nhận thứ hạng Ngagrampa trong các Nghiên cứu Mật
thừa. Ngài tới Ấn Độ năm 1959. 

Năm 1962, Đức Đạt Lai
Lạt Ma
thứ 14 chỉ định Đức Dhakpa Rinpoche là Tu viện trưởng Tu viện Sera Mey,
Tu viện trưởng đầu tiên của Tu viện Sera Mey ở hải ngoại. Rinpoche đảm nhiệm
chức vụ Tu viện trưởng trong ba năm nhưng bởi sức khỏe không tốt nên ngài đã
rời Tu viện và tới miền đông bắc Ấn Độ để điều trị tại Kalimpong. Trong thời
gian
ở Kalimpong, nhiều người Tây Tạng ở địa phương đã tạo được mối nối kết chặt
chẽ với Rinpoche nhờ những giáo lýgia hộ tâm linh của ngài. Cho tới năm
1990 Rinpoche đã sống một cuộc đời hết sức trầm lặng ở Kalimpong và dùng hầu
hết thời gian để nhập thấtthiền định. Mặc dù Rinpoche là một trong những vị
Thầy tâm linh
cao quý và quan trọng nhất sống ở Ấn Độ, nhưng bởi bản tánh khiêm
tốn và những thực hành cá nhân của ngài nên ngài ít được bên ngoài biết tới.
Tuy nhiên, trong thực tế ngài là một trong những vị Thầy vô cùng hiếm hoi hộ
trì
các giáo lý từ những dòng truyền thừa bí mật, quan trọng và quý báu bậc
nhất mà ngài đã nhận lãnh từ Pabongka Rinpoche và nhiều Lạt ma hóa thân chứng
ngộ
cao cấp khác ở Tây Tạng. Trong suốt đời ngài, Rinpoche đã tích cực tìm kiếm
giáo lý từ các Đạo sư tâm linh của những truyền thống Phật giáo Tây Tạng khác,
khiến cho sự hiểu biếtgiáo lý của ngài càng thêm phong phú. Hiện tại, ngài
đang trao truyền tất cả những giáo lý bí mật này cho các Lạt ma và Geshe trẻ
tuổi trước khi ngài quá già. Vì thế, Rinpoche được khẩn cầu trao truyền tất cả
những giáo lý và những nhập môn Mật thừa khác cho các Rinpoche trẻ ở Tu viện
Sera Mey, là nơi ngài an cư ba tháng mỗi mùa đông. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã tán
thán
Dhakpa Rinpoche về sự dâng hiến các thực hànhbố thí Pháp của ngài.

Nguyên tác: “Venerable
Dhakpa Tulku Rinpoche”

http://www.fpmt.org/teachers/lineage_lamas/dhakpa_rinpoche.asp

Chú thích: 
(1) Gaden Tripa: vị Hộ
trì
Pháp tòa Gaden, người lãnh đạo truyền thống Geluk của Phật giáo Tây
Tạng

Bản dịch Việt ngữ của
Thanh Liên


Đức Kyabje Yongdzin Ling Dorjechang 1903-1983
Nguyên tác: “His Holiness Kyabje Yongdzin Ling Dorjechang 1903-1983
Bản dịch Việt ngữ của Thanh Liên

Thầy
Trưởng Giáo của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười bốn, và Vị Hộ trì Pháp tòa thứ 97
của Đức Je Tzongkhapa, ngài Jetzun Thubten Lungtog Namgyal Trinley Palzangpo,
Đức Kim Cương Trì Yongdzin Ling vĩ đại ra đời lúc bình minh ngày mồng sáu tháng
mười một năm Thủy-Mẹo (1903) theo lịch Tây Tạng. Thân mẫu của ngài là Sonam
Dekyi đã hạ sinh ngài tại Yabphu, một thánh địa của Chakrasamvara và vị phối
ngẫu, ở tây bắc Lhasa, Tây Tạng. Ngài là người thứ sáu trong một loạt các hóa
thân
của ngài. Sharchoe Yongdzin Ling Tulku, Losang Lungtog Tenzin
Trinley, vị tiền nhiệm của ngài, là Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười
Ba. Trong khóa nhập thất thiền định toàn phần kéo dài ba năm của ngài về
Vajrabhairava (1), giữa những thời khóa thiền định hàng ngày, ngài đã biên soạn
một trong nhiều tác phẩm nổi tiếng của ngài. Tác phẩm này tên là Bậc thang thứ
18 của Vajrabhairava Ekavira, Tibet House, New Delhi xuất bản năm 1981. Đây là
cẩm nang đầy đủ và đáng tin cậy nhất có thể sử dụng để thực hànhnghiên cứu
về Vajrabhairava, bởi dòng truyền thừa này rất được yêu quý như sự hiển lộ
trong thân tướng con người của chính Bổn Tôn Vajrabhairava. Kế đó, tới lượt Đức
Ling Rinpoche thứ Năm là hóa thân của Ngawang Lungtog Yonten Gyatso, Thầy giáo
của Đức Khedrub Gyatso, Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Một, và là Vị Hộ trì Pháp tòa
thứ Bảy mươi lăm. Có nhiều hiển lộ khác của dòng truyền của Ling Rinpoche kéo dài
từ thời Đức Phật.

Ngài Yongdzin Rinpoche
được Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Ba và các vị Vấn Linh của Quốc gia là Nechung
và Gadong tìm thấyxác nhậnhóa thân không sai lạc của vị tiền nhiệm. Khi
được bảy tuổi ngài được chính thức đăng quang theo nghi thức truyền thống.

Khi an trú tại ẩn thất
tu viện Garpa Ritroe của ngài, trong thời thiên niếu, ngài đã theo khóa tu học
căn bản gồm đọc, viết, học thuộc lòng và những môn học chuẩn bị khác dưới sự
giám hộ của vài học giảhành giả vĩ đại. Năm Thủy-Tí (1912) khi được mười
tuổi, ngài vào Học viện Loseling thuộc Đại học Tu viện Drepung và bắt đầu một
quá trình tu học nghiêm ngặt những lãnh vực nghiên cứu bao la của Phật giáo.
Tháng giêng năm Thủy-Sửu (1913) ngài thọ các giới nguyện cư sĩtu sĩ Genyen
và Getsun từ Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Ba – Vị Hộ trì Giáo lý vĩ đại, Đạo sư
Đức Phật Toàn trí (như lời của Kyabje Ling Rinpoche đã nói), tại Đại sảnh
Sasum Mangyal của Cung điện Mùa Đông Potala. 

Kế đó, trong khi ở Đại
học
Tu viện Drepung, ngài dấn mình vào việc nghiên cứu rộng rãi các môn học để
đạt được học vị Geshe (Tiến sĩ Phật Học), bao gồm Năm Luận thuyết về luận lý,
trí tuệ, triết học, đạo đứcsiêu hình học của các Đạo sư Phật giáo Ấn Độ
lừng danh, và những luận giảng của các Đạo sư Tây Tạng về những luận thuyết đó.
Những lúc rảnh rỗi ngài nghiên cứu những kiến thức phụ khác, nhờ đó hoàn thiện
những phẩm tính của một Đạo sư uyên bác

Năm Mộc-Tuất, ở tuổi hai
mươi, ngài thọ giới Gelong (Cụ túc giới) từ Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Ba,
người vừa làm Tu viện trưởng vừa làm thầy trợ giáo, cùng với số tu sĩ theo quy
định
. Sau khi được phép tham dự kỳ thi Geshe cuối cùng ở độ tuổi rất trẻ, theo
lời khuyên của vị Tu viện trưởng đương nhiệm của Học viện Loseling, ngài đã tới
dự thi trước những cộng đồng tu sĩ khác nhau và nhận học vị Geshe Lharampa tại
cung điện Mùa Hè Norbu Lingkha trong Đại Lễ Cầu nguyện Hàng Năm ở Lhasa vào
tháng 5 năm Mộc-Tý (1924). Ngài được Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười ba ban học vị
Geshe Lharampa ở vị trí thứ hai với sự tôn vinh. 

Từ năm mười hai tuổi,
ngài nhận nhiều thuyết giảng về mọi phương diện của giáo lý Kinh điển và Tantra
(Mật điển) và những nhập môn Mật thừa từ ba mươi Lạt ma vĩ đại, trong đó có Đức
Đạt Lai Lạt Ma, Bổn sư Kyabje Phabongkhapa Dechen Nyingpo, Kyabje Buldu
Dorjechang, Nhiếp Chính Kyabgon Sikyong Tadrag Dorjechang, Kyabje Khangsar
Dorjechang, Chone Lama Rinpoche, Kyabje Yongdzin Trijang Dorjechang và nhiều vị
Thầy khác. Năm hai mươi tám tuổi, trong khi làm một cuộc hành hương thật xa ở
Tây Tạng, ngài ban nhiều buổi thuyết giảng ở những nơi khác nhau. Khi Đức Đạt
Lai Lạt Ma
thứ Mười Ba thị tịch vào năm Thủy-Dậu (1933), ngài đã tham gia vào
việc chuẩn bị để bảo quản nhục thân của Đức Đạt Lai Lạt Ma và lễ hiến cúng điện
thờ thánh tích của Ngài trong điện Potala trong thời gian hai năm.

Năm Hỏa Tý (1936), ở tuổi ba mươi tư, sau khi đã
nổi tiếng trong chức vụ gekyö (Thầy chấp giới) một nhiệm kỳ, ngài được bổ nhiệm
làm Lạt ma trưởng của Gyutoe. Nhiếp Chính Gyaltsab Radreng Hothogtu chỉ định
ngài làm Tu viện trưởng. Chính vào năm thứ hai trong nhiệm kỳ Tu viện trưởng
ngài đã nhìn thấy tôn nhan của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười Bốn, người từ Domey
Tzonkha tới Lhasa – Domey Tzonkha cũng là nơi sinh của Jamgon Tzongkhapa.

Năm Kim-Thìn (1940), Đức
Đạt Lai Lạt Ma hiện tại được tôn phong trên ‘Sư Tử Tòa.’ Sau khi làm Thầy Trợ
Giáo
cho Đức Đạt Lai Lạt Ma vào lúc đầu, trong khi làm Tu viện trưởng Gyutoe,
giờ đây ngài được bổ nhiệm làm Thầy Phó Giáo. Sau đó, năm 1949, ngài được bổ
nhiệm
làm Sharpa Choeje, vị trí thứ hai trong Truyền thống Gelug bên cạnh Vị Hộ
trì
Pháp Tòa Gaden và cuối cùng trở thành Thầy Trưởng Giáo của Đức Đạt Lai Lạt
Ma
.

Năm Mộc-Ngọ (1954) ngài
làm Tu viện trưởng và thầy giáo khi Đức Đạt Lai Lạt Ma thọ Cụ túc giới (Gelong)
trước linh tượng của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni trong Chánh Điện Tzuglakhang ở
Lhasa, trong Đại Lễ Cầu nguyện Hàng Năm. Cùng với Thầy Phụ Giáo Kyabje Yongdzin
Trijang Rinpoche, ngài tiếp tục hiến dâng Đức Đạt Lai Lạt Ma dòng trao truyền
không đứt đoạn và không bị suy hoại các Thánh Pháp thuộc Kinh điểnMật điển
và những lãnh vực kiến thức khác. Các ngài trao đổi cho nhau những dòng truyền
thừa
các giáo lý. Sự hài hòa lý tưởnghoàn hảo này khiến cho những trách
nhiệm
cao quý của các ngài trở nên vô cùng giá trị và hữu ích. 

Kế đó, vào năm 1954,
Kyabje Ling Rinpoche tháp tùng Đức Đạt Lai Lạt Ma tới Trung quốc trong một
chuyến viếng thăm có tính cách quốc gia. Sau đó vào năm 1956 ngài tháp tùng Đức
Đạt Lai Lạt Ma tới Ấn Độ để tham dự lễ kỷ niệm 2500 năm ngày Đức Phật nhập Niết
Bàn
. Trên đường trở về từ những chuyến du hành này, cũng như trong nhiều cơ hội
trước đây, ngài đã ban những giáo lý quan trọng về Kinh điểnMật điển
những nhập môn công khai lẫn bí mật cho hàng ngàn đệ tử, theo cách đó chỉ vì
lợi lạc của chúng sinh, ngài đã chia sẻ dòng truyền thừa những giáo lý này mà
ngài thọ nhận từ những Đạo sư của ngài. 

Sau đó vào năm Thổ-Hợi
(1959), để bảo hộ Phật Pháp và nền độc lập của Tây Tạng, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã
tới Ấn Độ. Cả hai vị Giáo Thọ, Đức Kyabje Yongdzin Ling Rinpoche và Kyabje
Yongdzin Trijang Rinpoche cũng tới Ấn Độ trong đoàn tùy tùng và cùng với Đức
Đạt Lai Lạt Ma, lúc đầu cư trú tại Mussoorie và sau đó ở Dharamsala, là nơi đã
trở thành trụ sở của Chính phủ Tây Tạng ở Hải ngoại năm 1960.

Sau khi vị Hộ trì Pháp
Tòa
Gaden thứ Chín mươi sáu mất ở Tây Tạng, Kyabje Ling Dorjechang được tôn
phong là Sharpa Choeje và được bổ nhiệm làm vị Hộ trì Pháp Tòa Gaden thứ Chín
mươi bảy. Năm ngài sáu mươi ba tuổi, vào ngày 6 tháng Ba năm 1965 (năm Mộc-Tỵ),
ngài ngự trên Pháp Tòa tại Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng), địa điểm tốt lành
thiêng liêng nhất, và cũng trở thành Tu viện trưởng của Tu viện Tây Tạng Gaden
Phelgye Ling ở Bodhgaya.

Năm Thổ-Thân (1968), cả
hai vị Giáo Thọ được Tiến sỹ Kuhn mời tới Thụy Sĩ để hiến cúng Tu viện Choekhorgon
tại Rikon, Zurich. Trong khi ở Âu châu, hai vị Giáo Thọ ban nhiều giáo lý và lễ
nhập môn cho cư dân Tây Tạng và những người khác, đi tới những quốc gia khác
nhau để đáp lại những lời thỉnh mời, vì thế phải hoãn lại việc trở về Ấn Độ đến
tận năm sau.

Trở về Ấn Độ năm 1969,
Kyabje Ling Dorjechang đã ban một thuyết giảng rộng lớn về luận văn Con Đường
Tuần tự dẫn tới Giác ngộ của Je Tzongkhapa trong một tháng rưỡi. Thuyết giảng
này được ban tại Bodhgaya (Bồ Đề Đạo Tràng), trong đại sảnh của Tu viện Tây
Tạng
cho khoảng bảy trăm đệ tử.

Với tư cách là Vị Hộ trì
Pháp tòa Gaden, ngài cũng chịu trách nhiệm tổ chức các Đại Lễ Cầu Nguyện Hàng
Năm ở Bodhgaya và những tu viện khác. Năm Thủy-Tí (1972) để đáp lại những khẩn
cầu liên tục, ngài viếng thăm Châu Âu một lần nữa và cũng trải qua một tháng ở
Bắc Mỹ trong mùa hè và thu năm 1980.

Ở Dharamsala, tại Viện
Chopra – trụ xứ riêng của ngài do Chính phủ Ấn Độ ân cần trao tặng, Kyabje Ling
Dorjechang đã hiến mình cho công cuộc khôi phục lại giáo lý đang bị suy tàn của
Đức Phật và những quan điểm toàn hảo của Đức Phật thứ Hai Jamgon Tzongkhapa về
Kinh điểnMật điển, cùng những truyền thống thực hành của các giáo lý đó.
Theo khẩn cầu của nhiều người Tây Tạng và số đệ tử người Tây phươngẤn Độ
mỗi lúc một tăng, ngài đã ban nhiều khóa giảng về những chủ đề chính yếu của
Kinh thừa và các nhập môn, những khẩu truyền và giảng dạy về các hệ thống Du
già
của bốn cấp Tantra (Mật điển). Ngài cũng thường ban những lễ thọ giới Sa Di
và Tỳ khưu.

Những bài giảng công
khai
cuối cùng của ngài bao gồm một thuyết giảng quảng bác về Lam-rim Chen mo,
Con Đường Tuần tự dẫn tới Giác ngộ, được ban tại Bylakuppe cho một hội chúng
gần hai ngàn người theo thỉnh cầu của Tu viện Sera và một khóa giảng kéo dài
năm ngày về Bốn Chánh niệm (Tứ niệm xứ) tại Tibet House (Viện Tây Tạng), New
Delhi, cho một hội chúng hơn một trăm đệ tử người Ấn Độ, Tây phươngTây Tạng
kết thúc bằng một sự chuẩn y của Đức Avalokiteshvara (Quán Thế Âm) và một
nhập môn trường thọ. Bằng cách này ngài đã an trụ thật tốt lành trong chúng ta
để dẫn dắt tất cả chúng sinh không loại trừ ai tới trạng thái chứng ngộ của
riêng
mình. 

Sau đó, trước sự sửng
sốt
tuyệt vọng của mọi người, ngài bị đột quỵ trầm trọng vào tháng Chín
1983. Từ khắp nơi ở Ấn Độ và ngoại quốc, các Tu viện trưởng và những vị lãnh
đạo
của các tu viện chính của phái Gelug và nhiều cá nhân lập tức tới
Dharamsala để dâng những lời cầu nguyện hồi hướng cho sự trường thọ của ngài.
Mặc dù đã dùng mọi các trị liệu có thể có được, cuối cùng vào trước buổi trưa
ngày 25 Tháng Mười Hai, ngài đã thị tịch vào cõi an bình ở tuổi tám mươi mốt vì
lợi lạc của chúng sinh bám chấp vào quan điểm về sự thường hằng. Và như vậy là
vào lúc tất cả những thị giả riêng của ngài đang ở trong phòng với ngài, ngài
đã mỉm cười khi thở hơi cuối cùng. Sau đó ngài an trụ trong trạng thái thiền
định
tịnh quang cho tới ngày 7 tháng Giêng, nhục thân của ngài vẫn ở trong
trình trạng toàn hảo. Người ta nghe thấy thiên nhạc và những giọng hát du dương
của người nam và người nữ vang lên từ gian phòng nơi nhục thân của ngài yên
nghỉ một mình trong trạng thái thiền định tịnh quang. 

Ngay cả những yếu tố
(các đại) và thiên nhiên cũng tỏ lòng tôn kính về sự kiện đau buồn này đối với
việc ra đi và sự vĩ đại thường hằng của ngài. Sáng sớm ngày ngài thể nhập trạng
thái
an bình, vào ngày Giáng sinh, thời tiết trở nên xáo trộn và gió mạnh thổi
qua Dharamsala với rất nhiều sự kích động. Hiện tượng tương tự tái diễn sau khi
trời tối, với sấm và sét, và để lại một lớp tuyết. Ít ngày sau, trong khi Đức
Kyabje Ling Dorjechang quá cố vẫn an trụ trong trạng thái tịnh quang, một cuộc
động đất nhẹ đã xảy ra trong vùng Dharamsala, được báo chí tường thuật vào ngày
hôm sau. Những đám mây có hình thể kỳ lạ được nhìn thấy suốt thời gian này. Vào
buổi sáng ngày ngài thể nhập tâm giác ngộ, rất nhiều bông tuyết đã rơi xuống
như một trận mưa hoa và một vầng cầu vồng bao quanh mặt trăng mọc sớm vào ban
ngày. Những người nhìn thấy cầu vồng đã coi điều này như một điềm triệu thiêng
liêng
cho thấy tâm thức của ngài ra đi trong ngày hôm đó. Cũng buổi sáng hôm đó
sắc diện ngài thay đổi và những dấu hiệu rõ ràng cho thấy tâm thức của ngài đã
lìa thân xác. 

Nhiều cá nhân và những
nhóm người đến để bày tỏ lòng tôn kính của họ và trong sự biết ơn sâu xa về những
công hạnh tràn đầy bi mẫn không thể diễn bày của ngài, các lễ cúng dường đã
được thực hiện rộng rãi. Kế đó, phù hợp với lời tiên tri của Đức Đạt Lai
Lạt Ma
, những thủ tục được bắt đầu để lập tức bảo quản nhục thân của ngài ngay
sau khi
ngài thể nhập giác ngộ vào ngày 7 Tháng Giêng. Người ta quyết định sử
dụng
phương pháp cổ xưa của Tây Tạng. Sau nghi lễ tịnh hóa và tắm rửa nhục thân
của ngài, nhiều loại khoáng chất, chất nước và dược liệu được dùng phù hợp với
những điều ngài đã viết về phương pháp bảo quản được ghi lại khi ngài nhận
những giảng dạy về điều này từ Bổn sư Pabongka của ngài ở Tây Tạng

Mặc dù lâm trọng bệnh,
ngài đã tận dụng hoàn cảnh này để biểu thị những phương diện khác nhau của Giáo
Pháp
khi ban cho các đệ tử của ngài một cơ hội độc nhất vô nhị để nhận thức một
cách mãnh liệt những phẩm tính hiếm có của ngài và để tích tập công đức bao la.
Ngoài ra để giảm bớt sự xúc động của các thị giả và các đệ tử trực tiếp, ngài
đã trải qua những giai đoạn bình thường của căn bệnh trong bốn tháng với sự
điềm tĩnhtrang nghiêm hoàn hảo, chuẩn bị cho họ điều không thể tránh khỏi
với lòng bi mẫn.

Trong thời gian ngài lâm
bệnh
, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã nhiều lần tới thăm và khẩn cầu ngài tiếp tục trụ
thế và ban năng lựctrí tuệ cho những người ở quanh ngài. Ngày 22 tháng Mười
Hai năm 1983, trong một bài diễn văn mở đầu, Đức Đạt Lai Lạt Ma đã ngỏ lời với
một cử tọa đông đảo gồm những đệ tử Tây TạngTây phương rằng khi xem xét
tình trạng của Kyabje Rinpoche mà ngài đã viếng thăm ngay buổi sáng hôm đó, thì
đây chính là lễ nhập môn Vajrabhairava cuối cùng mà Đức Kyabje Rinpoche ban
trong cuộc đời Lạt ma mà từ vị Thầy này Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thọ nhận dòng
truyền thừa
đặc biệt này. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã an ủi cử tọa đau buồn mòn mỏi,
nói rằng đây không phải là một nguyên nhân để sầu buồn, bởi mục đích của một
Lạt ma là làm thế nào ta có thể nhận lãnh giáo lý từ ngài và Đức Đạt Lai Lạt Ma
nói rằng với một ít ngoại lệ, Ngài đã nhận lãnh toàn bộ và đầy đủ giáo lý của
Kyabje Ling Dorjechang. Đức Đạt Lai Lạt Ma bổ túc cho lời dạy này bằng cách ban
nhập môn với sự bảo đảm siêu việt, thỉnh thoảng chia sẻ với hội chúng đệ tử một
nụ cười. Ngài nhấn mạnh thêm rằng cách thức tốt nhất để đền đáp thiện tâm của
Lạt ma là đưa lời dạy của ngài vào thực hành để thể hiện lòng sùng mộ của ta.
Như một kết thúc cho lễ nhập môn Đức Đạt Lai Lạt Ma đã thực hiện một lễ cúng
dường
tsog (2) cho Vajrabhairava (1) và yêu cầu hội chúng hồi hướng công đức
cho sự thành tựu vĩnh cửu những ước nguyện của vị Thầy vĩ đại này.

Không chỉ mang lại lợi
ích
cho chúng sinh bằng việc giảng dạy và an trú như một đối tượng để tích tập
rất nhiều công đức trong đời ngài, nhục thân của ngài vẫn tồn tại để giúp chúng
ta
tích tập thêm cội gốc đức hạnh.

Mặc dù hiện nay chúng ta
thiếu may mắn để nhận được lợi lạc từ sự hiện diện trực tiếp của ngài, nhưng
lòng bi mẫntrí tuệ của ngài không bị ngăn trở trong bất kỳ giới hạn nào.
Nếu hàng ngày chúng ta áp dụng những giáo lýlời khuyên dạy mà ngài đã ban
cho
với lòng bi mẫn theo cả hai cách công khai hay riêng tư, và nếu chúng ta
chú tâm thêm nữa tới lời chỉ dạy tương tự của các Lạt ma đang còn sống của
chúng ta thì đây chính là cách thức đúng đắnduy nhất để đền đáp thiên tâm
vô biên của ngài và để thọ nhận những gia hộ và dẫn dắt của ngài cho tới khi
ngài trở lại trong hóa thân kế tiếp. Chỉ bằng cách này mà chúng ta sẽ hoàn
thành
mục đích của lòng sùng mộ của chúng ta để thành kính khẩn cầu Đức Đạt Lai
Lạt Ma
biên soạn một lời cầu nguyện thỉnh cầu ngài mau chóng trở lại. Trong
những lời lẽ của Bài Cầu nguyện chúng ta chia sẻ đầy đủ lòng biết ơn và những
tình cảm sâu xa mà Đức Đạt Lai Lạt Ma đã biểu lộ và nhiệt thành mong mỏi
khẩn cầu một hóa thân nhanh chóng của vị Thầy được tôn kính và yêu quý nhất của
chúng ta. Cầu mong những lời nguyện thiết tha của chúng ta được nhanh chóng
thành tựu

Sherpa Tulku,
Dharamsala, Tháng Giêng 1984


Nguyên tác: “His
Holiness Kyabje Yongdzin Ling Dorjechang 1903-1983”

http://www.fpmt.org/teachers/hhling.asp

Chú thích:
(1) Vajrabhairava: Hiện
thân
phẫn nộ của Đức Manjushri (Văn Thù). Ngài là Bổn tôn chính của phái
Gelupa. Là một Hộ Pháp, ngài giải trừ mọi chướng ngại của hành giả trên con
đường
.

(2) Lễ cúng dường tsog:
Thực hành tsog là một trong nhiều phương pháp thiện xảo và hữu hiệu để tích tập
và tịnh hóa.

Từ Phạn ngữ của tsog là
ganachakra, trong tiếng Tây Tạng là tsog kyi khorlo. Từ tsog có nghĩa là ‘một
sự tích tập’ hay ‘sự thâu thập’, và khorlo có nghĩa là ‘bánh xe’ khiến cho từ
này được dịch sát nghĩa là ‘bánh xe tích tập’. Lễ tsog có thể được cử hành để
kỷ niệm Ngày Guru Rinpoche và Ngày Dakini (ngày 10 và 25 theo lịch Tây
Tạng
). 

Bản dịch Việt ngữ của
Thanh Liên

 

Các Tiểu sử ngắn gọn
Dòng hóa thân của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche
Người bảo vệ toàn khắp của ‘Đại dương các Vị Truyền PhápMạn Đà La’

Quả thực, gần như không thể thâu thập một biên
niên sử chi tiết về dòng hóa thân của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche. Nhưng một
cố gắng khiêm tốn để có được một thoáng nhìn về dòng hóa thân vinh quang của
ngài (những vị chính yếu) từ Đức Phật Thích Ca Mâu Ni cho tới bây giờ sẽ gây
truyền cảm hứng cho nhiều người để thi đua với ngài và điều này phù hợp với
những lời dạy minh triết đáng tin cậy. 

 

Một vài vị được biết
nhiều ở Ấn Độ

1. A La Hán Charka hay
Dachompa (Người tiêu diệt kẻ thù)

Trong thời gian dài ngài
đã là người trợ giúp của một Bồ Tát đối với nhiều vị tiền nhiệm của Đức Phật.
Ngài là một thượng thư thân cận cao cấp trong triều đình của Vua Tịnh Phạn,
thân phụ của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni. Sau này Đức Phật Thích Ca Mâu Ni ban
những bài thuyết pháp tại Nyanyoe về việc đạt được sự toàn giác và ngài là sứ
giả
cuối cùng được Vua Tịnh Phạn gởi tới để thuyết phục Đức Phật trở về vương
quốc. Thay vào đó, bị cuốn hút bởi ân phước của Đức Phật, giống như tất cả
những người khác trước đó, ngài trở thành một tu sĩđạt được quả vị A La hán
(Dachompa, người Tiêu diệt Kẻ thù) ngay trong đời này. Đức Phật đã tiên tri
thật rõ ràng rằng ngài là một Chiến sĩ kiệt xuất trong việc thấm nhuần niềm tin
nơi ‘Cư sĩ’ và điều phục họ bằng Giáo Pháp

2. Tramsey Rigche Serma
(một người Bà la môn)

Ngài là một bậc lão
thông mọi phương diện của Kinh Veda (Vệ-Đà) và mọi ngành của nó.

3. Drupchen Palkyong
(Một đại thánh)

Đã đạt được cấp độ cao
cấp Sa-lam (Nền tảng và Con Đường) – con đường tuần tự tới Giác ngộ – với các
thực hành Mật thừa sâu rộng của cả hai giai đoạn phát triểnthành tựu, đạt
được
sự chứng ngộ đích thực về Đại Lạc

4. Gyalpo Padma Chen (Vị
Vua vĩ đại của Oddiyana)

Gyalpo Padma Chen, vị
vua vĩ đại của Oddiyana, xứ sở của các giáo lý Mật điển Kim Cương sâu xa
mật
của Đức Phật Thích Ca Mâu Ni (Đức Phật thứ 4).

5. Gyalpo Rabsang (một
vị vua)

Một vị vua vĩ đại cai
trị vương quốc bằng sự công chính về mặt Tâm linh lẫn Thế tục.

6. Gyalpo Shinta Chen
(một vị vua)

Ngài là một Chiến sĩ
điều khiển cỗ xe Tâm linh lẫn Thế tục

7. Gyalpo Langpo Kyong
(một vị vua)

Cai trị vương quốc với
năng lực vĩ đại, điều phục người xấu bằng cách dùng Pháp luật nghiêm ngặt thúc
bách và chăm sóc người tốt lành với thiện tâm.

8. Trupthop Thoortroepa
(một vị thánh-nghĩa địa)

Ngài đã sống một cuộc
đời
giản dị không dính mắc để luôn luôn nhắc nhở mình về lẽ ‘vô thường’.

Và một số vị thuộc các dòng
hóa thân nổi danh sau này ở Tây Tạng

9. Ra Lotsawa Dorje Drak
(một Hành giả và Dịch giả Vĩ đại) 

Được tin tưởng là một
hiển lộ của Jigche hay Vajrabhairava (Bổn Tôn) ngài đã khai phá thực hành Mật
thừa chân thực và sự trao truyền Mật điển Pal Dorje Jigche ở Tây Tạng. Được coi
Hành giảnăng lực siêu nhiên khắp mười phương.

10. Akhu Trothoong Pawu
(Một người Dũng cảm)

Ngài là một người dũng
cảm
(chiến sĩ) và một thượng thư thân cận dưới triều Vua Gesar Gyalpo thần kỳ.

11. Chayulwa Shonnu Woe
(một hành giả)

Thực hành xuất sắc trong
sự ẩn dấu, ngài đã đạt được cấp bậc cao của các con đường có thể hoàn toàn đưa
dẫn mọi giáo lýthực hành vô giá của Jowo Kanampa thành thực hành liên tục
của ba loại người (ba loại căn cơ thượng, trung và hạ).

12. Terton Chenpo Ogyen
Lingpa (một Nhà Khám phá Kho tàng)

Một Nhà Khám phá kho
tàng được tiên tri bởi chính Guru Padmasambhava (Nhà Sáng lập truyền thống
Nyingma và chịu trách nhiệm chính trong việc truyền bá Phật GiáoTây Tạng,
nếu không, Giáo Pháp sẽ bị ngăn trở bởi các thế lực xấu ác.) 

13. Drubchen Rigzin
Dorje (một hành giả)

Ngài là một Hành giả nổi
danh
có khả năng thường xuyên kinh nghiệm Đại Lạc tự nhiên, sâu xatrong
sáng

14. Drubthop Dorje
Duedul (một vị thánh)

Người vô địch nổi tiếng
chiến thắng mọi sự xấu ác trong và ngoài.

15. Khechok Gyamapa (một
học giả vĩ đại)

Một học giả nổi tiếng,
tinh thông Tam tạng Kinh điển của Phật Pháp

16. Trichen Dhondup
Gyatso, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche Tehor Nagtsangpa thứ Nhất (1655-1702)

Được đại chúng biết tới
với danh hiệu Trichen Dhondup Gyatso, ngài sinh tại Tehor Nagtsang năm 1655 và
tới vùng trung tâm của Giáo Pháp (Lhasa) năm 1667. Gia nhập Nhà Hardong của Đại
Học
Tu viện Drepung Tashi Gomang vĩ đại, ngài đã hoàn thành một cuộc nghiên cứu
sâu rộng về năm Bản Văn Chính ngay từ Duedra (các chuẩn bị để điều chỉnh những
thiện xảo khi tranh luận cho việc áp dụng sau này) và được ban thưởng xứng đáng
Học vị Geshe Lharampa Hạng Nhất (Học vị Tiến sĩ Siêu Hình Học) tại Đại Lễ Monlam
Chenmo (1) tại Lhasa. Khi còn trẻ, ở tuổi 28, ngài trở thành Tu viện trưởng của
Palden Tashi Gomang. Năm 41 tuổi, ngài trở thành Tu viện trưởng của Tu viện Mật
thừa Palden Gyudmed. Và cuối cùng, ngài lên làm vị Hộ trì Pháp tòa Gaden lừng
lẫy
(chức vụ tối cao trong dòng Gelug) năm 1702 lúc 48 tuổi khi từ bỏ chức vụ
Sharpa Choeje. 

Ngài là Giáo Thọ của Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 6 Tsangyang Gyatso. Ngài sống ẩn dật tại Tu viện Chayul
Mangra tại miền trung thượng sau khi hoàn tất thật thành công nhiệm kỳ Gaden
Tripa kéo dài 7 năm và thị tịch năm 73 tuổi (1727).

17. Gedun Tenpai
Gyaltsen, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 2 (1728-1790)

Ngài được coi là một
người được thêm vào đầy thú vị cho Nhà Telghong ở miền Chayul Mangra (Trung
Thượng Tây Tạng) vào năm 1728. Ngài được nhận vào Chayul Mangra Gon, Trụ xứ
(Trung tâm Nghiên cứu) của vị Thầy nổi tiếng phái Kadampa Geshe Shonnu Woe sau
khi được xác nhậnhóa thân của người tiền nhiệm Trichen Dhondup Gyatso. 

Khi đến tuổi, ngài tới
Lhasa và vào Tu viện Drepung Tashi Gomang và chìm đắm trong việc nghiên cứu
nghiêm ngặt tất cả năm Bản Văn Chính.

Danh tiếng học giả của
ngài lan xa rộng với việc ngài biểu lộ kiến thức sâu rộng tại cuộc Tranh luận
Geshe Lharampa trong Đại Lễ Monlam Chenmo giữa giáo đoàn rộng lớn các bậc uyên
bác

Ngài được Đức Đạt Lai
Lạt Ma
thứ 7 Kelsang Gyatso bổ nhiệm làm Đạo sư-Bảo Trợ (U-la) của Tu viện Kham
Den Choekhor Ling và được phái tới tỉnh Kham. Được ban cho danh hiệu nổi tiếng
‘Ertini Dalai Hothothu’ bởi việc phụng sự mẫu mực và sáng chói cho Giáo Pháp.
Ngài lìa bỏ nhục thể vào năm 1790.

18. Lobsang
TenpaiGyaltsen, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 3 (1791-1810)

Sinh tại Lingtsang, Kham
Dherge năm 1791.

Tới Xứ trung tâm của
Giáo Pháp (Lhasa), ngài vào Ling Khangtsen, Đại Học Tu viện Drepung Loseling
bởi Lingtsang Den Choekhor Ling nhập vào Tu viện này – và do đó tất cả các tu
của nó tới miền trung tâm để theo đuổi những nghiên cứu Phật giáo Cao cấp.
Sau này ngài an trú ở Ling Khangtsen mặc dù được xác nhậnhóa thân của vị
tiền nhiệm Tritul và người ta đã hết sức nỗ lực để đón chào ngài tới Tu viện
Palden Gomang.

Và kể từ lúc này
‘Lingtul (hóa thân Ling) và người kế vị thứ 75 Pháp Tòa Gaden Tripa là một Giáo
Thọ
hay ‘yongzin’ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 11. Dòng truyền thừa hóa thân vinh
quang
của ngài được đại chúng biết đến với tên ‘Yongzin Ling Rinpoche’ hay
‘Ling Yongzin’.

Thật không may, trong
khi hoàn toàn mê mải nghiên cứuthực hành Pháp, ngài qua đời khi chưa tốt
nghiệp vào năm 1810, ở tuổi 20.

19. Ngawang Lungtok
Yonten Gyatso, Yongzin Ling Rinpoche thứ 4 (vị Hộ trì Pháp tòa Gaden thứ 75 và
Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 11 (1811-1853)

Năm 1811, ngài ra đời,
thân mẫu là Dolma ở Pomed và được đặt tên là Tashi.

Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 9
Lungtok Gyatso đặt Pháp danh cho ngài là Ngawang Lungtok Yonten Gyatso bởi ngài
được xác nhậnhóa thân của vị tiền nhiệm Lobsang Tenpai Gyaltsen, là kết quả
của việc tuyển chọn theo truyền thống lắc bình Vàng thiêng liêng qua vài giai
đoạn. 

Khi học tại Ling
Khangtsen, Đại học Tu viện Drepung Loseling và là kết quả của nhiều năm nghiên
cứu
mãnh liệt; ngài đã cuốn hút tất cả mọi người nhờ kiến thức phi thường của
ngài về toàn bộ Năm Bản Văn Chính tại Kỳ Thi Tranh luận Geshe Lharam trong Đại
Lễ
Monlam Chenmo (1) tại Lhasa dưới sự chứng kiến của những tu sĩ uyên bác,
minh triết của SeDreGa-soom.

Sau khi hoàn tất việc
nghiên cứu ‘Kinh điển’, ngài vào Đại Học Tu viện Mật thừa Gyutoe để theo đuổi
những nghiên cứu Mật thừa và ngài đã tinh thông mọi chủ đề của tất cả bốn loại
hay cấp độ Tantra.

Ngài đã giảng dạy rộng
rãi
sau khi trở thành Sharpa Choeje (vị Hộ trì Pháp tòa Gaden đang chờ ở
Shartse) và ngự trên Pháp tòa Gaden Tôn quý vào năm 1847 khi đúng 40 tuổi.

Gần như đồng thời, năm
1847 ngài trở thành một Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 11 Khedup Gyatso.

Cùng lúc đó, ngoài vô số
đệ tử sùng mộ ở Tây Tạng, Trung quốcMông Cổ, ngài đã làm thỏa mãn sự khao
khát tâm linh của nhiều vị thánh-học giả. Khi đã thành công nhiệm kỳ của Gaden
Tripa năm 1853, ngài rời bỏ thế giới này vào năm 1855. 

20. Lobsang Lungtok
Tenzin Thinley, Kyabje Yongzin Ling

Rinpoche thứ 5 (Sharpa
Choeje) 1856-1902
Sinh năm 1856, và được
xác nhậnhóa thân của vị tiền nhiệm Ngawang Lungtok Yonten Gyatso bởi ngài
đã có một cách cư xử vô cùng thu hút ngay khi còn rất nhỏ. 

Sau đó, ngài vào Đại Học
Tu viện Drepung Loseling và Tu viện Mật thừa Gyutoe để lần lượt theo đuổi những
nghiên cứu Kinh điểnMật điển. Nhờ vô cùng thông tuệ và sau nhiều năm làm
việc cật lực và nghiêm ngặt, ngài trở thành một học giả được coi là tinh thông
Kinh điển lẫn Mật điển

Chỉ đơn thuần thông hiểu
kiến thức không làm ngài thỏa mãn, ngài lao vào thiền định ở những nơi cô tịch
như Drigung Chayul Mangra Gon khi nỗ lực sắp xếp mọi thực hành thành một phương
tiện
để điều phục tâm thức phóng túng – và nỗ lực chân thành của ngài đã đạt
được
kết quả và được biểu hiện bởi cách hành xử an tịnhnội quán vô cùng sâu
xa
về những chủ đề trọng yếu như tánh Không.

Tác phẩm ‘Bậc thang thứ
18’ của ngài được viết năm 25 tuổi, cho tới bây giờ tác phẩm đó vẫn còn rất lợi
lạc
.

Ngài trở thành Lama Uze
(2) và tu viện trưởng của Tu viện Mật thừa Gyutoe rất sớm. Năm 1895, ngài trở
thành
Giáo Thọ của Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 13 Thubten Gyatso, và đã truyền đạt
cho Đức Đạt Lai Lạt Ma những giáo lý về Kinh điểnMật điển bao la như đại
dương
của ngài.

Ngài đã thực hiện rất
nhiều công việc lợi lạc cho Giáo Phápchúng sinh ngay cả sau khi ngài đã ngự
trên Pháp Tòa Sharpa Choeje. Ngài mất năm 1902.

21. Thupten Lungtok
Namgyal Thinley, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 6 (vị Hộ trì Pháp Tòa Gaden
thứ 97) 1903– 1983

Năm 1903, ngài tái sinh
ý hướng trong cõi sinh tử này vì lợi lạc của chúng sinh tại Toelung Karbok.
Ngài được xác nhậnhóa thân của vị tiền nhiệm Lobsang Lungtok Tenzin Thinley
qua những tiên tri hết sức rõ ràng không thể sai lạc của nhiều vị Hộ Pháp như
Hiện Thân Vấn Linh Nechung của tu viện Drepung và Gadong. Hai vị Hộ Pháp này đã
khẩn cầu và nhập định và được linh kiến siêu nhiên của Đức Đạt Lai Lạt Ma chứng
thực. 

Ngay lập tức, ngài đã
biên soạn một bài tán tháncầu nguyện – Món quà tuyệt hảo của sự bất tử
mọi ước nguyện, một lời cầu nguyện đời sống vĩnh cửu – cho hóa thân trẻ tuổi.
Năm 1912 (Thủy-Tý), khi lên 9 tuổi, ngài vào Đại Học Tu viện Drepung Loseling,
một Trụ xứ dành cho những Nghiên cứuThực hành Phật giáo Cao cấp. Năm sau
(năm Thủy-Ngưu) ngài nhận các giới nguyện Sa Di (Sramanera) và trong năm 1922
(năm Thủy-Tuất) khi 20 tuổi, nhận Cụ túc giới từ Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ Mười
Ba. Năm 1924, ngài dự Vòng thi Tranh luận Geshe Lharampa trong Đại Lễ Monlam
Chenmo tại Lhasa và làm mê hoặc mọi người bằng kiến thức sâu xa của ngài về Năm
Bản Văn Chính. 

Năm 1938 ở tuổi 36, ngài
bắt đầu giữ chức vụ Tu viện trưởng của Tu viện Mật thừa Gyutoe. Năm 1940 ngài
được bổ nhiệm làm Tsenshab (bạn và người hướng dẫn Tranh luận) của Đức Đạt Lai
Lạt Ma
thứ Mười Bốn Tenzin Gyatso và cuối cùng lên làm Thầy Phó Giáo (1941) và
Trưởng Giáo (1953) cho Đức Đạt Lai Lạt Ma. Năm 1949 ngài đảm đương trách nhiệm
Sharpa Choeje. 

Ngài đã ban Cụ túc giới
cho Đức Đạt Lai Lạt Ma thứ 14 trước thánh tượng Jowo ở Lhasa trong Đại Lễ
Monlam Chenmo tại Lhasa năm 1954. Năm 1965, tại Bodh Gaya (Bồ Đề Đạo Tràng),
ngài chính thức được tôn phong vị Hộ trì Pháp tòa Gaden phù hợp với huấn dụ
được niêm kín vào năm 1960 của Đức Đạt Lai Lạt Ma chỉ thị ngài lên Pháp tòa Tôn
quý Gaden.

Ngày 25 Tháng Mười hai
năm 1983 ở tuổi 81, ngài lìa bỏ chúng ta sau khi an trụ trong thiền định sâu xa
trong một thời gian dài.

22. Tenzin Lungtok
Thinley Choephak, Kyabje Yongzin Ling Rinpoche thứ 7 (1985- ) 

Sinh tại Bir, Khu Định
Tây Tạng (Ấn Độ) năm 1985. Đức Đạt Lai Lạt Ma đã xác nhận ngài là hóa thân
của vị tiền nhiệm Thupten Lungtok Namgyal Thinley và một lễ đăng quang đã được
tổ chức sau đó.

Năm 1990, ngài chính
thức
được nhận vào Tu viện Drepung và Loseling với những buổi lễcúng dường
được thực hiện cho Tăng đoàn linh thánh. Năm lên 8, từ Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài
liên tiếp nhận giới Upasaka (giới của cư sĩ), Pravraja (giới xuất gia) và
Sramanera (Sa di). 

Và chẳng bao lâu, theo
sự dẫn dắt của Đức Đạt Lai Lạt Ma, ngài lao vào hành trình tâm linh của ngài
tại Đại Học Tu viện Drepung Loseling để nghiên cứu Năm Bản Văn Chính và nhiều
luận giảng về chúng. Ngày 3 Tháng Ba năm 2004, khi ngài 20 tuổi, Đức Đạt Lai
Lạt Ma
vừa làm Tu viện trưởng vừa làm Đạo sư (khen-lop), đã ban cho ngài Cụ túc
giới
(giới của Tỳ khưu) giữa Tăng đoàn ở bên phải và những nghi lễ puja tuyệt
hảo

Năm 2006 ngài dự Vòng
Tranh luận được tổ chức cho 25 Khangtsen (nhà) của tu viện về chương 4 của Bát
nhã Ba la mật
(Pharchin Kaabshipa), kế đó là Vòng Tranh luận đòi hỏi cố gắng
hơn nữa tại sân Tranh luận của Loseling và Drepung Tsokchen – người này sau
người kia với truyền thống tốt đẹp của Tây Tạng. Tất cả những vòng thi này lên
tới cực điểm với cuộc tranh luận Tsoglang quan trọng (tranh luận trước Giáo
đoàn
) tại Drpung Tsokchen về sự kiện kiết tường Kỷ niệm Drepung Lubum (Hàng
trăm ngàn con Rồng) dưới sự chứng kiến của toàn thể giáo đoàn của Tu viện
Drepung gồm toàn các tu sĩ ưu tú.

Ngài đã viếng thăm Nam
Hàn, Pháp, Mon (A.P. Ấn Độ), Ladhak (Jammu, Ấn Độ) và nhiều nơi khác trong vài
thời điểm và đã ban nhiều giáo lý cho hàng ngàn người khao khát sùng mộ tùy
thuộc
vào những trải nghiệm và mức độ tâm linh của họ.

Hiện tại, ngài đang hoàn
toàn
chú tâm vào việc nghiên cứuthực hành Phật Pháp với hy vọng thi đua
những công hạnh vĩ đại của người tiền nhiệm của ngài, vì lợi ích của chúng sinh
Phật Pháp

Những ai muốn biết thêm
về ‘Kyabje Yongzin Ling Rinpoche’ xin tham khảo:

1. Tiểu sử Tràng hoa Quý
báu
của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche, Bậc Hộ trì Pháp Tòa Gaden thứ 97 của Đức
Đạt Lai Lạt Ma thứ 14.

2. Các Tiểu sử Vắn tắt
của Kyabje Yongzin Ling Rinpoche (các dòng hóa thân) – do Ban Quản lý
Yongzin Ling Ladrang biên soạn.


Nguyên tác: Brief
biographies of incarnate lineage of Kyabje Yongzin Ling Rinpoche – the
all-pervasive guardian of ‘Ocean of Apostles and Mandala’

http://www.loselingmonastery.org/index.php?id=52&type=p

Chú thích:
(1) Monlam Chenmo, cũng
được gọi là Đại Lễ Cầu nguyện được tổ chức từ ngày mồng 4 tới 11 tháng giêng
theo lịch Tây Tạng. Đây là buổi lễ tôn giáo vĩ đại nhất ở Tây Tạng và do Đức
Tsong Khapa Losang Drakpa (1357-1419), triết gia, vị Thánh, Đạo sư, nhà cải
cách
xã hội vĩ đại, và người sáng lập truyền thống Geluk của Phật giáo Tây Tạng
thiết lập

(2) Lama Uze: tương
đương với chức Phụ tá Tu viện trưởng.


Bản dịch Việt ngữ của
Thanh Liên

Đánh giá

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Scroll to Top