Buddhist Hybrid Sanskrit

Lời
BBT
: Để trả lời cho một câu hỏi của một độc giả về ngôn ngữ trong kinh điển
Phật Giáo liên quan đến dạng ngôn
ngữ
Indic miền Trung Ấn, “Buddhist hybrid Sanskrit”, chúng tôi biên tập bài
dưới đây dựa theo Tự Điển Bách Khoa Wikipedia và bài viết của tác gỉa Lê Tự Hỷ:

 

BUDDHIST HYBRID SANSKRIT

 

Thời đức Phật Thích Ca tại thế (563-483 trước
dương lịch) thì Phật pháp được giảng giải và trao truyền bằng lời nói, chứ chưa
được ghi lại dưới dạng văn tự. Trong lần kết tập thứ ba, theo lệnh của vua A
Dục
(Aśoka : 268-233 tr. dl), tức khoảng 218 năm sau khi Đức Phật Niết Bàn, Kinh
Phật mới được ghi lại thành văn bản trên những miếng đồng để lưu trữ. Vào thời
kỳ
nầy thì tiếng Phạn đã được học giả Pānini chuẩn hóa thành tiếng Phạn mà các
học giả Tây phương gọi là tiếng Phạn Cổ điển (Classical Sanskrit) để phân biệt
với tiếng Phạn thời trước đó trong kinh Vệ Đà, gọi là Phạn Vệ Đà (Vedic
Sanskrit).

“Theo
Giáo sư Franklin Edgerton [1], các văn bản Phật giáo đã được lưu giữ trong ít
nhất
là 4 ngôn ngữ Indic (1) Phạn
Cổ Điển (Classical Sanskrit) : Tiếng Phạn chuẩn tức tiếng Phạn đã được
chuẩn hóa bởi Pānini, phân biệt với tiếng Phạn trong kinh Vệ Đà là Vedic
Sanskrit. (2) Pāli,
còn gọi là Nam Phạn, một ngôn ngữ Indic miền Trung
Ấn
(Middle Indic). Đây là ngôn ngữ chuyển tải phần lớn nhất của tác phẩm
Phật giáo mà ngày nay được bảo lưu trong bất kỳ ngôn ngữ Indic nào , đó là ngôn
ngữ
của Phật Giáo Miền Nam (Nam truyền, Nam tông, Nguyên thủy, Tiểu thừa). Ngày
nay, hầu hết các học giả đều tin rằng Pāli chủ yếu là dựa trên một phương ngữ
Middle Indic thuộc miền Tây hay Trung tây. (3) Prakrit Dharmapada : là phương ngữ dựa trên một
Middle Indic miền Tây bắc. (4) Buddhist Hybrid Sanskrit : Ngôn ngữ mà Giáo sư Franklin Edgerton
goi là Buddhist Hybrid Sanskrit (viết tắt là BHS). Hầu hết các tác phẩm Phật
Giáo
Bắc Ấn Độ (Bắc truyền, Bắc tông, Đại thừa) được viết bằng BHS. Chẳng hạn,
toàn bộ các kinh trong bộ Đại Bát Nhã được viết bằng BHS. Ngôn ngữ nầy chủ yếu
dựa trên một phương ngữ Middle Indic cổ xưa mà vẫn chưa xác định rõ, đồng thời
chứa nhiều tiếng địa phương của các Middle Indic khác. Nhưng BHS cũng chịu ảnh
hưởng
sâu xa bởi tiếng Phạn khiến cho nhiều tác phẩm viết bằng BHS vẫn được gọi
một cách đơn giản là “tiếng Phạn”.

Giáo
sư Franklin Edgerton, trong bài viết “ Tiếng
Prakrit Làm Nền Tảng Cho Buddhistic Hybrid Sanskrit
” [02], cho biết rằng
những tác giả Phật giáo sử dụng tiếng Phạn chuẩn hóa hay Tiếng Phạn Cổ điển (Classical
Sanskrit), hay Brahmanical Sanskrit, do Pānini và các vị tiền bối chuẩn hóa chỉ là một số nhỏ. Nhóm nầy dường như là đã
được đào tạo trong truyền thống tăng lữ Bà La Môn chính thống (orthodox
Brahmanical training) vào thời trẻ nên họ rành tiếng Phạn chuẩn, rồi sau họ mới
chuyển qua đạo Phật, chẳng hạn như Aśvaghosa (Mã Minh), do đó họ dùng tiếng
Phạn chuẩn hóa để viết kinh sách Phật giáo. Đa số tác phẩm Phật giáo viết bằng
tiếng Phạn, chính là bằng Buddhist Hybrid Sanskrit . Vì vậy Buddhist Hybrit
Sanskrit cũng còn gọi là Tiếng Phạn Phật Giáo (Buddhist Sanskrit) hay Tiếng
Phạn Hỗn Hợp (Mixed Sanskrit).

Các
tác phẩm Phật giáo viết bằng Buddhist Hybrid Sanskrit xuất hiện sau khi Pānini
đã hoàn thành việc chuẩn hóa tiếng Phạn vào khoảng đầu thế kỷ thứ 4 trước dương
lịch. Sau công trình của Pānini thì tiếng Phạn đã trở thành ngôn ngữ vượt trội trong văn họctriết họcẤn Độ. Cho nên các nhà sư Phật giáo bắt đầu thích
nghi
ngôn ngữ họ đã dùng (tiếng địa phương của họ) với tiếng Phạn trong khi vẫn
còn ảnh hưởng của truyền thống ngôn ngữ thoát thai từ một dạng tiếng Prakrit
dùng chính thức trong tôn giáo của truyền thống truyền khẩu vào thời kỳ đầu của
việc trao truyền Phật pháp. Có lẽ chính vì dưới sự ảnh hưởng đa phương ngữ như
thế, mà các tác phẩm Phật giáo được viết bằng Buddhist Hybrid Sanskrit đã ra
đời.

Trong
khi có nhiều lý thuyết khá khác biệt nhau về mối liên hệ của Buddhist Hybrid
Sanskrit với Pāli, thì điều chắc chắn là Pāli thì gần với ngôn ngữ nầy
hơn là Sanskrit [3]. Theo K.R. Norman, thì Pāli cũng nên được xem như một dạng
của Buddhist Hybrid Sanskrit [04]. Franklin Edgerton lại cho rằng Pāli về cơ
bản là một loại tiếng Prakit
[05]. Ở những nơi mà BHS khác biệt với Sanskrit thì nó lại gần giống hay y hệt
như Pāli. Tuy nhiên, hầu hết những tác phẩm viết bằng BHS hiện còn tới nay thì
nguyên thủy được viết bằng BHS chứ không phải được viết lại hay dịch lại từ các
tác phẩm đã viết bằng Pāli hay các ngôn ngữ khác [06]…”

Theo
thầy Nhất Hạnh, khi giảng kinh Pháp Hoa cho biết “Prakrit và Sanskrit là hai thứ tiếng gần giống
nhau, nhưng hình thái văn phápchữ nghĩa của Sanskrit rất khác với
Prakrit. Cho nên, đứng về phương diện trường hàng tức là văn xuôi, thì
việc nhuận văn rất dễ dàng, nhưng đứng về phương diện trùng tụng thì rất khó
dịch. Vì vậy mà có nhiều đoạn trùng tụng đã không sửa lại được thành
Sanskrit, nên vẫn phải để nguyên chữ Prakrit. Thành ra tiếng Phạn trong
kinh Pháp Hoa cũng như trong một số kinh điển khác là tiếng Phạn lai, nghĩa là
một ngôn ngữ trộn lẫn giữa Sanskrit và Prakrit. Các học giả vào
thế kỷ 19 và 20 thường gọi tiếng Phạn trong kinh điển đạo Bụt là Buddhist
Hybrid Sanskrit, tức là tiếng Phạn lai của đạo Bụt.” (Sen Nở Trời Phương
Ngoại
, Lá Bối xuất bản).

 

BBT

[01]
Franklin Edgerton, “Buddhist Hybrid Sanskrit, vol. I Grammar, Motilal
Banarsidass, 1998, tr.1
[02]
Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit,
Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8, No.
2/3, tr. 504.
 
[03]. Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid
Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol.
8, No. 2/3, tr. 502.
 
[04]. Jagajjyoti, Buddha Jayanti Annual, 1984, tr. 4, được in lại
trong K.R. Norman, Collected Papers, vol. III,1992, Pāli Text Society, tr. 37
[05]. Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid
Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol.
8, No. 2/3, tr. 503.

[06].
Kranklin Edgerton, The Prakit Underlying Buddhistic Hybrid Sanskrit, Bulletin of the School of Oriental Studies, Unversity of London, Vol. 8,
No. 2/3, tr. 502.
Trích từ: TIẾNG PHẠN TRONG PHẬT
GIÁO, Lê Tự Hỷ (đoạn 2)
http://en.wikipedia.org/wiki/Buddhist_Hybrid_Sanskrit

 


Đánh giá

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *

Scroll to Top