Bài Ca Cho Dagmea

BÀI CA CHO DAGMEMA 
Tâm Bảo Đàn

______________________________________________________________________________


“Con trai ta, ngay từ giây phút đầu tiên, ta đã biết rằng con sẽ là người đệ
tử
có khả năng để thọ nhận giáo pháp. Vào đêm hôm trước, trước khi con đến đây,
ta biết được qua một giấc mộng rằng con sẽ mang sứ mạng phụng hành giáo pháp của
Phật. Vị phối ngẫu tâm linh của ta, trong một giấc mơ tương tự mà thực sự lại
còn kỳ diệu hơn nữa, đã nhìn thấy hai người đàn bà canh giữ một bảo tháp; đây
là điềm báo cho ta thấy rằng các vị Thiên Nữ Dakini sẽ bảo vệ các giáo lý của
dòng truyền thừa của chúng ta. Qua hình thức đó, đấng đạo sư của ta và chư vị hộ
pháp
đã gửi con đến cho ta như là một đệ tử.’ (Marpa nói với Milarepa)

_______________________________________________________________________________

Người
đời đã viết rất nhiều về ngài Marpa Lotsawa, là vị đạo sư có duyên nghiệp sâu
dầy, và là vị thầy dị thườngtuyệt hảo nhất của đức Milarepa. Bất cứ điều gì
liên quan đến Marpa thì xem ra cũng là một điều vô cùng vĩ đại và phi thường. Ngài
đại đệ tử tâm truyền của pháp vương Naropa, và đã ba lần lặn lội trong những
chuyến đi cực kỳ hiểm nguy và gian khổ từ Tây Tạng qua tận Ấn Độ để thọ các giáo
mật điển thâm diệu từ Naropa cùng các vị tôn sư khác. Ngài là một đại học
giả
, đại dịch giả, đại hành giả, đại thành tựu giả, và là người đã khổ công rèn
luyện
Milarepa, đưa được Milarepa vào con đường tu chứng để thành Phật.

Phần lớn đó là những gì thường được
nhắc lại khi chúng ta nói về sự nghiệp của Marpa và sự liên hệ giữa Marpa và
Milarepa. Nhưng ở đây, hình như còn có thêm một nhân duyên khác nữa cũng rất lạ
thường mà trước nay không mấy ai có thói quen nhắc đến. Và nếu bình tâm suy nghĩ thì chúng ta cũng có
thể sẽ thấy ra được rằng cuộc đời của đạo sư Marpa đã kết nối sâu đậm mật thiết
với Milarepa như thế nào thì cuộc đời của Dagmema (*), vị phối ngẫu tâm linh
của ngài Marpa, cũng gắn bó mật thiết với Milarepa y như thế.

Tuy trên thực tế là như vậy nhưng gần như ít có tài liệu nào viết về Dagmema. Muốn
tìm một bức tranh họa lại khuôn mặt của bà cũng thật vô cùng khó khăn, gần như
là không có. Nói chung, hình ảnh của bà rất lu mờ khi phải đem ra so sánh với
sự chói sáng rực rỡ của cả ngàn bầu mặt trời phát ra từ đại đạo sư Marpa
Lotsawa.

Vào đêm hôm trước, trước khi Milarepa tìm đến được Drowo Lung, ngài Marpa đã nằm
mộng
. Trong giấc mộng, pháp vương Naropa hiện ra gia trì cho ngài Marpa, rồi
đưa cho ngài một chiếc chùy kim cang năm chấu làm bằng lưu ly nhưng lại hơi có
chút vết nhơ. Sau đó pháp vương Naropa
lại đưa tiếp cho Marpa một chiếc tịnh bình làm bằng vàng, trong có chứa đầy
nước cam lộ và nói rằng, ‘Hãy dùng nước trong bình này để rửa sạch những vết
nhơ
trên chùy kim cang rồi đem đặt nó trên đỉnh ngọn cờ chiến thắng. Được như
thế thì sẽ làm hoan hỉ chư Phật trong quá khứ và làm cho tất cả chúng sinh được
hạnh phúc, và qua đó mà con có thể thành tựu lợi ích cho bản thân và cho những
người khác.”
(“Cuộc Đời Của Milarepa” hay “The Life Stories of
Milarepa,” Lobsang P. Lhalungpa, Arkana-Penguin Group, New York, 1977, trang
43)
Nói xong như thế, ngài Naropa biến mất, và sau khi làm theo lời của
Naropa, đại đạo sư Marpa thấy ánh sáng chói rực phóng ra từ chiếc chùy kim
cang
, làm cho toàn thể vũ trụ sáng rực lên rồi ánh sáng ấy phóng tỏa xuống chúng
sinh
trong khắp sáu cõi.

Và điều lạ lùng là bà Dagmema cũng đã nằm
mơ một giấc mơ tương ứng vào ngay đêm hôm ấy. 

Hơi có chút ngạc
nhiên
bởi giấc mộng của mình, Marpa choàng tỉnh dậy. Trong lòng ngài tràn ngập niềm hân hoan
cảm xúc yêu thương. Ngay lúc ấy, bà vợ của ngài vào phòng để dâng nước nóng cho
ngài uống vào buổi sáng. Bà nói rằng, ‘Ồ Lạt Ma, tối hôm qua, tôi có một giấc
mơ. Có hai người đàn bà đến từ [cõi tịnh] Urgyen từ hướng bắc, họ có cầm một
bảo tháp bằng pha lê. Trên mặt của bảo tháp này có những bợn nhơ. Và hai vị này
nói rằng, ‘Naropa đã ra lệnh cho Lạt Ma hiến cúng bảo tháp này và sau đó hãy
đặt nó lên trên đỉnh ngọn núi.’ Và ngài, chính ngài [Marpa] lại la lên rằng,
‘Cho dù việc hiến cúng bảo tháp này đã được Đại Sư Naropa cử hành hoàn mãn,
nhưng ta phải tuân theo mệnh lệnh của Naropa.’ Rồi ngài [Marpa] đã rửa sạch cái
bảo tháp ấy bằng nước mát tinh khiết trong tịnh bìnhcử hành lễ hiến cúng.
Sau đó, ngài [Marpa] đã đặt nó trên đỉnh
một ngọn núi, nơi đó nó phóng tỏa ánh sáng muôn ngàn sắc, rực rỡ chói sáng như
mặt trờimặt trăng, và rồi nó lại còn phóng ra vô lượng vô số những bảo tháp
như khuôn đúc giống như thế ở ngay trên những ngọn núi. Và hai người đàn bà [từ
cõi tịnh Urgyen] đã để ý dõi nhìn theo các bảo tháp ấy. Đấy là giấc mơ của tôi.
Thế thì giấc mơ ấy có ý nghĩa gì?’

Marpa thầm nghĩ trong
bụng, ’Những giấc mơ này rất là tương ứng với nhau,’ và trong lòng ngài tràn
ngập niềm hân hoan cực kỳ to lớn, nhưng trước mặt bà vợ thì ngài chỉ nói
rằng,’Ta chẳng biết ý nghĩa là gì bởi vì các giấc mộng chẳng có căn nguyên gì
cả. Bây giờ ta sẽ đi cầy ruộng gần con đường cái. Hãy chuẩn bị những gì ta
cần.’

Bà vợ của ngài trả
lời
rằng, ‘Nhưng đấy là công việc của những kẻ lao động. Nếu ngài, một đạo sư
vĩ đại lại đi làm công việc ấy thì mọi người sẽ cười nhạo chúng ta. Bởi thế,
tôi van ngài, xin ngài đừng đi.’ (Lhalungpa, trang 44)

Nhưng lẽ dĩ nhiên, đại đạo sư cứ mặc kệ
và ngài cứ đi. Khi ấy, Dagmema chưa đoán biết được chuyện gì sắp xảy ra, nhưng
ngài Marpa thì biết. Ngài bảo bà chuẩn bị trước hai hủ bia ‘chang,’ ngài
uống hết một hủ, xong rồi ngài đem hủ thứ nhì ra đặt dưới chiếc mũ của ngài ở
ngoài cánh đồng, vừa cầy ruộng, vừa chờ tên môn đồ — mà sau này ngài đặt cho
cái tên là ‘Đại Phù Thủy’ (Great Magician) — lò mò tìm đến.

***

Từ đó trở về sau, trong suốt quãng thời
gian
nhiều năm trời khi Milarepa sống cạnh Marpa và phải trải qua những đau khổ
tột cùng dưới sự huấn luyện sắt thép của Marpa, Dagmema đã đóng trọn vai trò
của một người mẹ, người chị, người bạn và của một y tá viên rất tận tụy và từ
ái
. Cho dù bên ngoài có vẻ như bà đã làm
nhiều điều trái ngược với ý nguyện của đại đạo sư, nhưng bên trong, bà mặc
nhiên
trở thành một hộ pháp, và là người đã hỗ trợ đắc lực cho vị ‘đại y sĩ’
Marpa khi Marpa phải đảm nhận trọng trách chữa lành các căn bệnh thân và tâm
của Milarepa trong kiếp này.

Hằng này bà nấu nướng, bưng dọn thức ăn
cho Milarepa. Khi ngài trải qua cơn đau đớn bệnh tật thì bà đưa ngài đến gặp đại
đạo sư
Marpa, xin thỉnh đạo sư cho ngài được nghỉ ngơi, rồi bà lại đem thức ăn,
thức uống bổ dưỡng đến cho ngài. Ngược lại, gặp lúc buồn tủi cần người
than thở hay trợ giúp thì Milarepa lại đi tìm bà. Khi cần người làm chứng cho
sự trái chứng trở trời của đạo sư Marpa thì ngài một mực cầu cứu bà phải có mặt
ở đó để nghe lời Marpa phán. Khi ngài sắp đặt kế hoạch giả vờ bỏ trốn thì ngài
nhờ bà giúp đóng chung màn kịch để tạo áp lực cho Marpa. Có lần sau khi đã bỏ
đi thật rồi thì trên đường đi, ngài nghĩ lại và lại nhớ đến bà, và ngài đã kể
lại rằng:

[Trước khi bỏ đi,]
tôi thầm nghĩ trong lòng, ‘Nếu ta đem theo bột lúa mạch của Lạt Ma để làm lương
khô thì điều này sẽ càng làm cho ngài thêm giận dữ.’ Tôi đem mớ sách của tôi đi
theo
, không nói năng từ giã gì ai cả, ngay cả với vị phối ngẫu của Lạt Ma. Trên
đường đi, tôi nhớ nghĩ đến sự tử tế của bà và tôi thấy thật trân quý. Đi được
nửa ngày đường từ Drowo Lung thì tôi phải dừng chân lại để dùng bữa. Tôi xin
được một ít bột lúa mạch rang và mượn được một cái nồi. Gom góp được một ít
củi, tôi nấu bữa ăn của mình và ngồi xuống ăn. Đến lúc bấy giờ đã quá trưa rồi
và rồi tôi nghĩ, ‘Phân nửa công việc tôi làm là để trả ơn Lạt Ma; phân nửa còn
lại là để trả cho miếng ăn. Chuẩn bị một bữa ăn như thế này thôi cũng thật khó
khăn đối với tôi. Vị phối ngẫu tâm linh
của Lạt Ma đã phải nấu ăn và dọn thức ăn cho tôi hằng ngày, vậy mà tôi đã không
nói được cả một lời từ giã bà, tôi quả thật là tên ác ôn! Tôi có nên quay trở
lại
hay không?’ (Lhalungpa, trang 59)

Cuối cùng, Milarepa đã quay trở lại,
bởi vì ngài lại nghĩ tiếp đến lời hứa của bà, rằng nếu đại đạo sư nhất định
không chịu ban mật pháp cho ngài thì bà sẽ thu xếpchu cấp cho ngài để giúp
ngài tìm một vị đạo sư khác. Nhưng một khi ngài đã tiếp tục chấp nhận theo chân
vị đạo sư đầy uy lực phẫn nộ Marpa thì có nghĩa là nhiều lần, Milarepa đã phải
trải qua đau đớnthất vọng đến cùng cực, cùng cực và cùng cực.

Khi thân của Milarepa bị bầm dập đầy máu
mủ
vì phải khuân vác trên lưng những tảng đá to nặng để xây đi xây lại một tòa
tháp mà ngài Marpa đã ra lệnh là phải xây cho Darma Dodebum (Dode**), người
con trai của ông bà, thì bà Dagmema đã vừa chăm nom, vừa thương khóc, vừa kêu
nài đại đạo sư Marpa hãy xót thương và hãy nương tay với người môn đồ này. Bà đã
nhiều lần thay ngài thỉnh cầu đại đạo sư Marpa bằng những lời nài nỉ, kêu van, và
có lần ‘Đại Phù Thủy’ đã kể lại như sau:

Tôi xây xong tòa tháp
và bắt tay vào việc hoàn tất nốt cái hành lang. Nhưng đến lúc ấy thì tôi đã có
những chỗ lở lói trên lưng. Máu mủ rỉ ra từ ba vết thương. Tôi đã đưa lưng ra
cho vị phối ngẫu của đạo sư xem; thật ra, toàn thể cái lưng tôi là một tảng lở
loét lớn. Tôi nài nỉ bà hãy cứu giúp tôi, hãy thỉnh xin đạo sư chỉ dạy giáo
pháp
cho tôi và hãy nhắc lại cho ngài nhớ về những lời hứa của ngài khi tôi
khởi công đổ móng cho tòa tháp. Sư mẫu đã nhìn vào những chỗ lở loét trên thân
tôi với tất cả sự quan tâm và những dòng lệ đã trào ra từ đôi mắt của bà. ‘Ta
sẽ phải đi nói chuyện với Lạt Ma,’ bà nói như thế. 

Và đến trước mặt Lạt
Ma
, bà đã nói như thế này: ‘Lạt Ma Rinpoché ạ, công việc mà Đại Phù Thủy đang làm
đã làm cho chân tay nó rách loét hết rồi. Trên lưng của nó có ba vết lở lói
tuôn ra đầy máu mủ. Tôi đã từng nghe nói, và ngay cả đã từng nhìn thấy, những
con ngựa và con lừa với những vết lở loét trên lưng nhưng tôi chưa từng bao giờ
nhìn thấy hoặc ngay cả nghe thấy những vết lở loét như thế trên lưng con người.
Tôi sẽ thật xấu hổ nếu người khác nhìn thấy hoặc nghe thấy về điều này như vậy.
Tôi lại càng xấu hổ hơn nữa khi biết là việc này lại là do một vị lạt ma cao
trọng như ngài tạo ra. Bởi vì thằng bé này thật sự rất xứng đáng để đón nhận
lòng từ bi, ngài hãy ban giáo lý cho nó đi. Lúc đầu ngài đã nói là ngài sẽ ban
giáo huấn cho nó khi nó xây xong tòa tháp mà.’

Lạt Ma trả lời, ‘Đó
đúng là điều gì ta đã nói. Ta đã nói là ta sẽ ban giáo lý cho hắn sau khi hắn
xây xong tòa tháp cao mười tầng. Vậy mười tầng đâu?’ [Bà vợ của ngài đáp,] ‘Nó
đã xây nhiều hơn cả mười tầng rồi. Nó xây nguyên cả một dãy hành lang ở phía
dưới.’ [Lạt Ma nói tiếp,] ‘Đừng nhiều lời nữa. Nếu hắn xây xong mười tầng thì
ta sẽ chỉ dạy cho hắn. Hắn có bị những vết lở loét thật không?’ ‘Chẳng những nó
bị những vết lở loét mà gần như cái lưng của nó chẳng còn lại cái gì cả ngoại
trừ lở loét. Nhưng ngài có quá nhiều uy quyền mà, ngài có thể làm bất cứ cái gì
chỉ cốt cho mình vui lòng [thay vì quan tâm đến nó].

Nói xong như thế, với
một tâm trạng buồn phiền to lớn, bà liền chạy đi tìm tôi. ‘Thôi thì con nên đi
cùng với ta đến đó,’ bà bảo thế. (Lhalungpa, trang 54)

Rồi bà đưa ‘Đại Phù Thủy’ đến gặp đại
đạo sư
. Khi nhìn thấy cảnh tượng ấy thì đại đạo sư cũng đã nhỏ lệ khóc thầm
nhưng bên ngoài thì ngài vẫn giữ bộ mặt lạnh lùng không thương xót. Ngài chỉ
cho Milarepa cách dùng những miếng vải băng bó các vết thương và Milarepa đã
phải khuân đá bằng một cái giây đãi đeo vòng trước ngực thay vì vác trên lưng. Sau đó, ‘Đại Phù Thủy’ lại kể tiếp:

Những vết lở loét của
tôi bị nhiễm trùng và tôi lăn ra ốm nặng. Tôi đã nói cho vị phối ngẫu của Lạt
Ma
biết. Thay mặt cho tôi, bà lại nài nỉ Lạt Ma hãy ban quán đảnh cho tôi, hoặc
ít ra là cũng cho phép tôi được nghỉ ngơi và chờ cho các vết lở lói lành lại.
Lạt Ma trả lời bà rằng, ‘Ngày nào tòa tháp ấy chưa xây xong thì hắn không có
được cho cái gì hết. Nếu hắn có thể làm việc thì để cho hắn làm việc. Nếu hắn
không làm nổi nữa thì để cho hắn nghỉ ngơi.’

Sư mẫu nói với tôi
là, ‘Cho đến ngày nào mà các vết lở lói trên lưng con chưa lành lại thì hãy
nghỉ ngơi.’ Trong thời gian ấy, bà giúp tôi dưỡng sức bằng cách cho tôi thức ăn
thức uống ngon lành. Trong thời gian vài ngày, tôi cảm thấy rất sung sướng,
ngoại trừ nỗi buồn khổ là tôi vẫn chưa được thọ nhận giáo lý. (Lhalungpa, trang
55)

Cuối cùng, khi cả thân lẫn tâm của
Milarepa đều rướm máu từ ngoài vào đến trong tận cùng xương tủy thì bà đã hết
lòng
khuyên lơn, vỗ về ngài rồi bà đi đến quyết định là: “Giữa hai ta với
nhau
, chúng ta hãy cố gắng nghĩ ra một cái kế gì để cho con có thể đón nhận
được giáo pháp.” (Lhalungpa, trang 55)

Thế là Milarepa tính kế giả vờ bỏ trốn
đi, và ngài yêu cầu bà phải đóng kịch với ngài và bà đồng ý. Trong khi ngài
khăn gói, cột một vài quyển sách cùng ít vật dụng cá nhân vào trên một cái túi
đựng bột thì bà giả vờ níu kéo kêu than để cho đại đạo sư nghe thấy.

nói thật lớn
giọng, ‘Nếu con thỉnh cầu Lạt Ma thì ngài sẽ ban giáo pháp cho con. Hãy ở lại
đây bằng bất cứ giá nào.” Và bà giả vờ kềm giữ tôi lại. Nhìn thấy cảnh tượng
ấy, Lạt Ma lên tiếng hỏi, “Bà kia, hai người đang làm cái trò gì ở kia đấy?’ Bà
trả lời, ‘Từ lâu lắm rồi, Đại Phù Thủy bảo rằng nó đã đến từ một ngôi làng xa
xôi để cầu pháp. Nhưng thay vì được ban cho giáo pháp thì nó chỉ toàn nhận được
những lời mắng chửi và những cú đánh đập. Bởi vì nó sợ nó sẽ qua đời mà không
có được tín ngưỡng tâm linh, nên nó định bỏ đi tìm một đạo sư khác và nó đang
thu dọn ít đồ đạc của nó để ra đi. May phước là tôi năn nỉ nó và hứa với nó là
nó sẽ được nhận giáo lý nên tôi đã có thể cầm chân nó.’

Lạt Ma trả lời, ‘Ta hiểu rồi.’ Và rồi ngài bước raliên tục đánh tát vào mặt
tôi. ‘Khi ngươi mới đến đây, ngay lập tức ngươi bảo là dâng cúng thân, khẩu, ý
của ngươi cho ta. Vậy bây giờ ngươi định đi đâu? Ngươi có chắc là ngươi đang
không học được gì không? Bởi vì ngươi thuộc về ta, ta có thể xé xác ngươi, xé
khẩu ngữ, xé tâm ý của ngươi ra thành trăm mảnh. Ngay cả như thế, nếu ngươi vẫn
cứ muốn đi, thì ngươi trả lời cho ta nghe xem, ngươi định đi đâu với túi bột
này của ta?’

Nói như thế xong,
ngài tiếp tục đánh tát vào mặt tôi. Ngài giằng lấy cái túi bột và đem nó trở
lại
vào trong nhà. Sự tuyệt vọng cùng cực của tôi cũng giống như của một bà mẹ
vừa mất đi đứa con duy nhất của mình. Tôi nghe theo lời khuyên của vị phối ngẫu
tâm linh của ngài, và bởi vì ngài hiện tướng quá ư khủng khiếp, nên tôi run rẩy
quay trở lại vào nhà, và tôi bắt đầu khóc sướt mướt. (Lhalungpa, trang 56)

Và rồi trong khi chưa biết phải xoay sở
cách nào để cho Milarepa được thọ mật pháp, Dagmema đã mạo muội chỉ bày cho
Milarepa pháp thiền quán Dorje Pagmo (tức Vajrayogini). Nhưng bà có phải là Lạt
Ma
đâu, nên pháp tu mà bà chỉ vẽ cho ngài xem ra chẳng có hiệu quả gì cả. Điều
buồn cười và cũng rất dễ thương là lời trần tình thật thà của Milarepa sau đó.
Ngài nói:

Vị phối ngẫu của Lạt
Ma
nói với tôi rằng, ‘Cho dù hai chúng tacố gắng thế nào đi nữa thì Lạt Ma
cũng không ban giáo pháp cho con vào lúc này. Nhưng chắc chắn cuối cùng rồi thì
ngài cũng sẽ ban cho con. Trong khi chờ đợi thì ta sẽ chỉ dẫn cho con.’

Bà đã chỉ cho tôi
phương thức thiền quán về Dorje Pagmo. Việc ấy đã chẳng đem đến được cho tôi
một chứng nghiệm nội tâm nào, nhưng ngược lại, rất có ích lợi cho tâm thức của
tôi và đã nâng đỡ tinh thần tôi rất nhiều. Tôi đã bày tỏ lòng biết ơn của tôi
trước tấm lòng nhân từ của bà, vị phối ngẫu của Lạt Ma của tôi. Tôi nghĩ rằng,
là vợ của Lạt Ma, bà có thể tịnh hóa ác nghiệp. Vào mùa hè khi bà vắt sữa bò,
tôi cầm cái xô cho bà. Khi bà rang hạt, tôi cầm cái chảo cho bà. Và qua đó, dù
là ở đâu, tôi cũng luôn luôn làm các công việc phục vụ giúp bà. (Lhalungpa,
trang 56)


lần, biết được tin đại đạo sư sắp ban quán đảnh Chakrasamvara cho các đệ tử thì
lập tức chạy đi báo tin cho Milarepa rồi dặn dò ngài bằng mọi cách phải xin
phép tham dự cho bằng được. Lẽ dĩ nhiên, đại đạo sư Marpa lên cơn hung nộ,
chẳng những không cho phép mà còn đánh đập, quát tháo, quăng, ném ngài ra ngoài
sân. Ngài khóc suốt một đêm và bà lại phải đến tận nơi an ủi tinh thần của ngài
rồi bà nói:

Lạt Ma đã từng luôn luôn nói rằng những giáo lý mà ngài đem về từ Ấn Độ là để
làm lợi ích cho toàn thể chúng sinh. Ngay cả nếu một con chó hiện ra trước mặt
ngài thì ngài cũng sẽ dạy Giáo Pháp cho nó và hồi hướng công đức của việc giảng
dạy ấy vì lợi lạc của tất cả. Tại sao ngài lại không chấp nhận con, ta thật
không
thể hiểu. Dù sao đi nữa, con đừng vì việc này mà phát sinh những tư tưởng
xấu ác nhé. (Lhalungpa, trang 53)

Ngay sau đó, bà lại lén đưa cho
Milarepa một chậu bơ, một tấm vải và một chiếc nồi đồng nho nhỏ để làm vật cúng
dường
lên đại đạo sư, những mong Milarepa sẽ được phép thọ một quán đảnh khác
là Guhyasamaja. Lẽ dĩ nhiên, đại đạo sư lại hùng hổ từ chối, quát tháo ầm ỉ và
thẳng tay trừng trị ngài.

Sau khi đã dâng lên
các món cúng dường, tôi đứng vào trong hàng chung với những người khác. Lạt Ma
hỏi tôi, ‘Đại Phù Thủy, ngươi đem những phẩm vật gì đến đây để có thể lên đứng
chung hàng như thế, hử?’ [Tôi trả lời,] ‘Dạ, một chậu bơ, một tấm vải và cái
nồi đồng để nấu ăn này đây ạ.’ [Lạt Ma nói,] ‘Những thứ này đã được dâng lên
cho ta trước đây bởi một kẻ khác. Đừng có dâng cho ta vật dụng của chính ta!
Nếu ngươi có cái gì khác của riêng ngươi để dâng thì chạy đi lấy nó. Còn không
thì đừng có tiếp tục đứng đây.’

Và rồi ngài đứng dậy, chửi rủa tôi, đá mạnh vào người tôi và ném tôi ra bên
ngoài. Tôi chỉ muốn chui xuống lòng đất cho xong.


[Sau đó,] vị phối ngẫu của ngài đã đến, đem cho tôi một phần bánh cúng nghi lễ
[của lễ quán đảnh Guhyasamaja]. Bà đã an ủi tôi thật nhiều và rồi đã ra về.
Nhưng tôi không cảm thấy thèm muốn ăn miếng bánh ấy chút nào, và suốt cả đêm,
tôi đã sụt sùi khóc. (Lhalungpa, trang 53-54)

Đến khi cùng quẫn vì chẳng thể làm gì
khác được để thuyết phục cho đại đạo sư Marpa siêu lòng, bà lại tiếp tục to gan,
bày mưu tính kế để cho Milarepa được toại nguyện. Trước đây bà đã lén đưa cho
Milarepa nồi đồng, bơ, vải vóc để dùng làm cúng phẩm cho đại đạo sư, nay bà lại
hy sinh châu ngọc, của hồi môn quý giá của bà, rồi sau đấy lại còn dám đánh cắp
các bảo vật của pháp vương Naropa mà ngài Marpa vô cùng trân quý, dám giả mạo
một lá thư ký tên Marpa để thỉnh cầu Lạt Ma Ngokpa (một đệ tử thượng thủ của
Marpa) để vị ấy ban mật pháp cho ‘Đại Phù Thủy.’

Vị phối ngẫu của đạo sư bảo với tôi rằng, ‘Nếu Lạt Ma không thỏa mãn với tòa
tháp mà con đã xây cho ngài, và nếu ngài muốn đòi các món quý giá thì hãy dâng
cho ngài món quà này và hãy cố gắng bằng mọi cách làm sao để ngài ban quán đảnh
cho con.’ Bà đưa cho tôi một miếng ngọc lam sậm màu thật lớn mà bà đã bí mật cất
giữ rồi nói, ‘Con hãy thưa thỉnh với ngài trước, và dâng lên miếng ngọc lam
này. Nếu ngài không chấp thuận, thì ta sẽ thỉnh ngài cho con.’

Tôi đã dâng cúng miếng ngọc lam ấy cho Lạt Ma và thưa rằng, ‘Con khẩn nài ngài,
xin hãy ban truyền giáo lý cho con trong dịp này.’ Và tôi bước đến đứng chung
với các đệ tử khác. Lạt Ma nhìn ngắm, xem xét miếng ngọc lam, lật qua rồi lại
lật lại. ‘Đại Phù Thủy, ngươi lấy miếng ngọc này ở đâu ra?’ Tôi trả lời, ‘Dạ,
sư mẫu đã cho con.’ Lạt Ma mỉm cười rồi bảo, ‘Đi tìm bà ấy cho ta.’ Tôi đã van
nài sư mẫu hãy tới nơi.

Lạt Ma nói với bà
rằng, ‘Này phối ngẫu tâm linh của ta, chúng ta có được miếng ngọc lam này từ
đâu?’ Sau khi đã rạp mình cúi chào ngài, sư mẫu trả lời như sau, ‘Miếng ngọc
lam này chẳng phải là điều ngài phải bận tâm. Khi cha mẹ tôi gả cưới tôi cho
ngài, ngài đã đùng đùng lên cơn nổi trận lôi đình. Thấy thế, cha mẹ tôi đã
mật
cho tôi miếng ngọc lam này và nói với tôi rằng, ‘Hãy dấu kỹ nó đi, đừng đưa
cho ai xem cả. Bất kỳ khi nào con và chồng con phải bỏ nhau, thì rất có thể con
sẽ cần nó.’ Tôi đã tặng nó lại cho thằng bé đáng thương này vì tôi cảm thấy tội
nghiệp
cho nó không thể nào tả xiết. Hãy nhận lấy món cúng dường này và hãy ban
quán đảnh cho Đại Phù Thủy đi. Lạt Ma Ngokpa, ông và các môn đồ của ông, hãy
thấu hiểu nỗi niềm thống khổ của nó khi nó bị khai trừ khỏi lễ quán đảnh, các
ông hãy nói phụ vào giúp cho lời thỉnh cầu này của ta.’

Vừa nói, bà vừa rạp
mình đảnh lễ đạo sư nhiều lần. Nhìn thấy Lạt Ma đang hiện tướng hung nộ quá ư
kinh khiếp, Ngokpa và các môn đồ của ông không dám hé môi nói nửa lời. Họ chỉ
đơn thuần làm một số cử chỉ ưng thuận và rạp mình đảnh lễ cùng với vị phối ngẫu
của đạo sư.

Lạt Ma nói, ‘Nhờ vào các
lễ điệu tốt lành của vợ ta mà miếng ngọc lam này suýt nữa đã rơi vào tay kẻ lạ.’
Và rồi, quấn đeo sợi giây có miếng ngọc ấy vào quanh cổ, ngài lại tiếp tục nói,
‘Này phối ngẫu tâm linh, bà đã chẳng hề suy nghĩ. Nếu tôi hoàn toàn là chủ của
bà, thì tôi cũng là chủ nhân của miếng ngọc lam này của bà. Đại Phù Thủy, ngươi
của cải gì thì đem ra đây và sẽ được ban cho quán đảnh. Còn miếng ngọc lam
này là của ta.’
(Lhalungpa, trang 57)

Cũng chính trong lần ấy mà Dagmema đã cùng
ngồi khóc thâu đêm với ‘Đại Phù Thủy.’ Bà đã phải vực Milarepa dậy khi ngài
muốn tự tìm cho mình cái chết, nhất là khi ngài đã phải liên tiếp hứng chịu
những trận đòn thô bạo từ đạo sư mà rồi cuối cùng, vẫn chẳng được ban cho giáo
pháp
.

Lạt Ma nổi cơn thịnh
nộ
và nhảy vùng lên! ‘Ta đã bảo mi cút đi, vậy mà mi vẫn còn đứng đây. Đồ xấc
láo!’ Ngài đã đá văng tôi dập mặt xuống đất, và tất cả mọi thứ biến thành một
màu tối đen. Ngài quăng tôi ngả ngửa ra đất và tôi thấy mắt tôi nổ đầy đom đóm.
Và rồi ngài nắm lấy một cây gậy, nhưng Ngokpa đã kềm giữ ngài lại. Quá kinh
hoảng
, tôi nhảy vọt xuống dưới mảnh sân. Cho dù Lạt Malo lắng quan tâm cho
tôi, ngài vẫn giả vờ như ngài còn đang giận dữ.

Tôi không bị thương tích, nhưng tràn đầy niềm thống khổ và tôi thèm khát được
chết quách đi cho rồi. Và rồi vị phối ngẫu của Lạt Ma đã đến tìm tôi giữa những
hàng nước mắt, ‘Đại Phù Thủy à, đừng quá đau đớn tuyệt vọng. Chẳng có một môn
đồ
nào lại trung thành và nhiều lòng thương mến đến như con vậy. Nhưng bây giờ
nếu con muốn đi tìm một vị đạo sư khác để tu học giáo lý thì ta sẽ sắp xếp
chuẩn bị bất kỳ cái gì con cần. Ta sẽ đưa cho con lương thực dự trữ và các món
cúng dường.’ Bằng cách ấy, bà đã vỗ về, an ủi tôi. Cho đến khi ấy, bà vẫn thường
muốn tham dự tất cả các pháp hội của Lạt Ma. Nhưng tối hôm đó, bà đã đến thăm
tôi, và suốt cả đêm, đã cùng ngồi khóc với tôi.

(Lhalungpa, trang 58)

Sau đó, ‘Đại Phù Thủy’ đã thực sự bỏ
trốn vì không thể nào chịu đựng được nữa, và đã kể lại như sau:

Khi tôi rời khỏi nhà Lạt Ma rồi, vợ của ngài đã nói với ngài, ‘Kẻ thù không đội
trời chung của ông đã bỏ đi rồi đấy. Bây giờ ông thấy vui lòng chưa?’ ‘Ai bỏ đi?’
[Lạt Ma hỏi.] ‘Còn ai nữa, ngoại trừ cái tên Đại Phù Thủy mà ông đã đối xử như
một kẻ thù và đã đâm chỉa vào người hắn bất kỳ một sự thống khổ nào mà ông có
thể đâm vào được, chứ còn ai?’

Khi nghe xong những lời ấy thì khuôn mặt của đạo sư sa sầm lại và nước mắt của
ngài tuôn rơi nhạt nhòa. ‘ Ôi chư Lạt Ma
dòng Khẩu Truyền Kagyu, chư Thiên Nữ Dakini và chư Hộ Pháp tâm linh, xin các
ngài hãy giao trả lại đứa con trai với túc duyên sâu dầy của con.’ Sau khi cầu
nguyện
như thế xong, ngài đã che đầu mình lại bằng tấm vải và tiếp tục ngồi yên
bất động. (Lhalungpa, trang 59)

Sau lần đó thì lại xảy ra thêm một lần hy
hữu
nữa, khi bà đã cố tình đãi bia cho đại đạo sư và các đệ tử say bí tỉ, rồi bà
lén lấy trộm một số châu báu và chiếc chuỗi tràng bằng hồng ngọc quý giá mà
pháp vương Naropa đã ban cho đại đạo sư Marpa. Sau đó, bà viết một lá thư giả
mạo
gửi Lạt Ma Ngokpa, đóng dấu triện của ngài Marpa lên rồi đưa tất cả cho ‘Đại
Phù Thủy’ đem đi cầu pháp. Một thời gian
sau thì mọi chuyện vỡ lở ra.

Cho nên bất kỳ khi nào đại đạo sư Marpa
lên cơn hung nộ, quở trách, đánh mắng Milarepa thì cùng một lúc ngài cũng quở
trách
, đôi khi đánh mắng cả bà. Với trí tuệ và cái nhìn tinh tế và xuyên suốt,
ngài biết rằng Milarepa suy nghĩ, toan tính những gì là bà cũng dự phần vào
những toan tính ấy y như thế, dù là gián tiếp hay trực tiếp.

Trong cơn giận dữ, Marpa chỉ tay vào người tôi và gầm hỏi, ‘Ngươi lấy những thứ
này ở đâu ra?’
Trái tim của tôi quằn quại trong
đau đớn, giống như nó vừa bị xé toạc ra. Tôi ngậm câm miệng lại trong niềm kinh
hãi
. Và rồi, bằng một giọng nói run rẩy, tôi thú nhận rằng sư mẫu là người đã
đưa những thứ ấy cho tôi.
Lạt Ma liền nhảy dựng lên và rút cây gậy
‘acacia’ ra với ý định muốn đánh đòn bà vợ của ngài. Nhưng bởi vì từ nãy đến
giờ, bà đã lắng nghe một cách hết sức chăm chú [và biết được chuyện gì sắp xảy
ra] nên bà cũng nhảy dựng lên và co chân chạy.
Ẩn mình nương náu trong chánh
điện
, bà khóa chặt cửa lại.

Lạt Ma dộng ầm ầm vào cánh cửa, sau đó ngài quay ra và ngồi xuống. Ngài nói với
Ngokpa, ‘Ngokton Chodor, ngươi đã hành động mà không được phép của ta. Hãy đi ngay
bây giờ và lấy các thứ châu bảo của Naropa cùng với chuỗi tràng bằng hồng ngọc
của ngài về lại đây.’ Sau đó, Marpa lấy tấm vải choàng của ngài che đầu của
ngài rồi ngài ngồi yên bất động.

Sau khi đã đảnh lễ sư phụ, Ngokpa lập tức chạy đi để lấy về những món châu bảo
và chuỗi tràng bằng hồng ngọc của Naropa. Tôi thật ân hận là tôi đã không chạy
trốn
cùng với bà vợ của ngài. Tôi cảm thấy muốn khóc, và trong khi tôi đang cố
kềm giữ không để những giọt lệ tuôn trào thì Ngokpa nhìn thấy tôi.

(Lhalungpa, trang 69)

***

Cuối cùng, khi đại đạo sư Marpa ưng
thuận
ban mật pháp vô thượng cho Milarepa thì Dagmema là người mà ngài Marpa đã
sai đi tìm Milarepa để đưa đến gặp ngài.

Một vị sư đã kể lại hết cho
Marpa nghe về những diễn tiến ấy. Marpa trả lời rằng, ‘Trong quá khứ, nếu hắn
nói như vậy thì là đúng. Nhưng ngày hôm nay, ta sẽ không làm giống như những gì
ta đã làm trong quá khứ nữa đâu. Đại Phù Thủy bây giờ sẽ là vị thượng khách chính.
Hãy phái sư mẫu đi tìm hắn và đem hắn đến đây cho ta!’ 

Vị phối ngẫu của Lạt Ma đã vừa
mỉm cười, vừa lo sợ, nói với tôi rằng, ‘Huynh Đệ Đại Phù Thủy (Brother Great
Magician) ơi, bây giờ có vẻ như là Lạt Ma đã chịu nhận con làm một đệ tử rồi!
Có vẻ như là chính lòng từ bi của ngài đã làm cho ngài bị chấn động sâu xa.
Ngài nói rằng bây giờ con là thượng khách của ngài, và ngài đã sai ta đi tìm
con. Ngài cũng không nói những lời nặng nề mắng nhiếc ta nữa. Vậy chúng ta hãy
hoan hỉ và hãy cùng nhau đi thôi.’ (Lhalungpa, trang 72-73)

 

Và rồi trước mặt hàng đệ tử của ngài, đại
đạo sư
Marpa đã đi đến kết luận như sau:

‘Nếu quán xét mọi thứ
một cách kỹ càng, không có một ai trong chúng ta đáng bị trách cứ. Ta chỉ thuần
túy
thử thách Đại Phù Thủy để giúp tẩy sạch các tội ác của hắn. Nếu việc xây
tòa tháp là để lợi lạc cho chính bản thân ta thì ta đã nhẹ nhàng hơn trong khi
ra mệnh lệnh rồi. Bởi thế, ta đã hết sức chân thành. [Còn Dagmema,] là một
người phụ nữ, cho nên bà cũng không có gì sai quấy khi không thể nào chịu đựng
nổi cảnh tượng ấy. Nhưng bởi vì quá mức từ bi mà bà đã đánh lừa bằng những bảo
vật
và lá thư giả mạo [để giúp Milarepa thọ pháp], và đấy mới thật là một sự nuông
chiều quá độ.’


‘Cho dù cái nóng giận của ta dâng trào lên như nước lũ, đây không phải là sự
sân giận thế tục. Và cho dù mọi chuyện thể hiện như thế nào chăng nữa thì các
hành động của ta luôn luôn đến từ những quán chiếu tâm linh, và tự trong cốt
tủy, đều phù hợp với Con Đường Giác Ngộ.’ (Lhalungpa, trang 74)

Khi ấy, Milarepa đã tịnh hóa được tất
cả các ác nghiệptích tụ được đầy đủ công đức, phước duyên, ngài được đại
đạo sư
Marpa ban cho giáo pháp mật điển thâm diệu, là con đường có thể dẫn đến
Phật quả chỉ trong một đời. Khi ấy, cũng chính là sự mãn nguyện và niềm hạnh
phúc
to lớn nhất của Dagmema.

 ***

Nhưng ngoại trừ những dịp vui hiếm hoi như thế thì từ đầu đến cuối câu chuyện,
chỉ toàn thấy Milarepa kể lại về những lo âu nặng trĩu và công việc đa đoan của
bà. Bà bận rộn làm việc suốt cả ngày và phải thu vén mọi việc trong ngoài đâu
ra đó, từ việc vắt sữa, rang hạt, cho đến nấu ăn, chuẩn bị đàn tràng, đãi tiệc,
sắp xếp các nghi lễ và các cúng phẩm cho đạo sưđệ tử trong các buổi thỉnh
pháp hoặc quán đảnh, v.v. Phần còn lại thì không biết bao lần bà đã phải ngồi an
ủi
và khóc chung với ngài. Nghĩa là phần lớn chỉ toàn chuyện muộn phiền.

Thật ra, chẳng phải chuyện gì liên quan đến Dagmema cũng có tính chất bi quan
hay sầu thảm, bởi vì ngay trong những câu chuyện phiền não mà lại vẫn có chút
gì đó rất khôi hài. Có thể đó là do bởi lối kể chuyện của ngài Milarepa. Nên đôi
khi tôi vừa đọc mà vừa phải phì cười, nhất là những khi nghe đại đạo sư Marpa
quở trách bà cùng với Milarepa. 

Nói chung, những phản ứng và tính toán
của Dagmema phần lớn dựa vào cảm tính. Khi xưa, bà đã ngồi khóc suốt đêm cùng
Milarepa trong lúc ngài đau khổ cùng cực. Thì giờ đây, khi thấy Milarepa được
toại lòng và sung sướng, bà đã hoan hỉ gieo mình xuống đất đảnh lễ đại đạo sư
Marpa, để tạ ơn Marpa đã đồng ý ban các giáo pháp mật điển tối thượng cho
Milarepa. Lâu về sau nữa, khi Marpa quyết định ban cho Milarepa những pháp tu
tối mật, chỉ truyền riêng một thầy một trò thì bà là người đã chứng kiến
Marpa đã sai phái bà phải thu xếp, chuẩn bị chu đáo các nghi lễ thỉnh pháp và
cúng dường cho ngài. Khi Milarepa đóng cửa ẩn tu trong một thời gian dài, bà đã
theo chân đại đạo sư Marpa đến tận nơi thăm hỏi, đem cho thức ăn, thức uống, và
hân hoan với những thành quả khi ‘Đại Phù Thủy’ trình bày về những sở đắc và
chứng ngộ của mình cho đại đạo sư nghe.

Với bản chất đơn thuần thấm đượm lòng
nhân từ
, trong suốt cuộc hành trình hỗ trợ cho đại đạo sư Marpa rèn luyện
Milarepa, có vẻ như bà đã hành xử trong khả năng và hiểu biết rất giới hạn của
mình, đôi khi quá chân chất, đôi khi thiếu sự khôn ngoan khéo léo. 

Nhưng giả sử nếu không có Dagmema trong
cuộc đời của đại đạo sư Marpa thì cũng sẽ không có Dagmema trong cuộc đời của
tên sát nhân hay ‘Đại Phù Thủy’ mà sau này trở thành đại thánhdu già
Milarepa. Không có bà trong cuộc đời của ‘Đại Phù Thủy’ thì sẽ chẳng có ai liên
tiếp
vực Milarepa dậy sau những lần bị Marpa chửi rủa, quát tháo, lôi kéo, đánh
đập, quăng, ném, nghĩa là phải cắn răng nhẫn chịu sự bầm dập của cả thể xác lẫn
tinh thần trong nhiều năm tháng, để tịnh hóa cho sạch tận các ác nghiệp trước
khi được Marpa chính thức cho phép thọ nhận các pháp tu thâm diệu của mật thừa.

Khi ta đọc về những sắp đặt, mưu toan của bà để giúp cho Milarepa có thể thành
tựu
ước nguyện, đôi khi chúng tacảm giác như bà đang bày ra những trò trẻ
con rất đỗi buồn cười. Đúng thật là đối trước cái rắn rỏi sắt đá đầy trí tuệ
của đại đạo sư Marpa thì chúng ta có thể sẽ phải bật cười trước cái giản đơn và
ngây thơ trong các lời nói và các toan tính của bà, từ những câu nói giận dỗi
đầy châm biếm bà dành cho Marpa khi bà chứng kiến cung cách hành xử mà bà cho
là quá tàn nhẫn của ngài, cho đến những ngụy tạo rất ngây ngô để đánh lừa
Marpa, chỉ mong sao cho Marpa bị mắc mưu mà đồng ý ban cho Milarepa mật pháp

Nhưng cho dù là như thế thì sự chân
thành
của Dagmema, tâm nguyện ngày đêm của bà làm sao để cho Milarepa được thọ
pháp
thành tựu giáo pháp thì lúc nào cũng như lúc nào, không kém gì sự chân
thành
cực kỳ sâu thẳm của chính Milarepa. Qua những ứng xử và cảm xúc của bà,
bà cho chúng ta cái cảm giác là hình như bà thành tâm cầu pháp cho Milarepa còn
hơn cả cầu cho chính bản thân mình.

***

Mới đây, trên một chuyến bay trở về lại
Hoa Kỳ từ một nơi xa xôi, tôi đã vô tình đọc được một bài ca mà ngài Marpa đã
hát cho Dagmema nghe khi người con trai ruột yêu quý của bà tên là Darma
Dodebum (Dode) đã phải lìa đời sau khi xảy ra tai nạn té ngựa trên đường đi.

Lúc đầu, tôi có chủ tâm muốn đọc về
Dagmema đâu. Quyển sách tôi quyết định lấy ra khỏi va-li để cầm lên máy bay là
quyển sách tiểu sử của đại đạo sư Marpa mà tôi đã thỉnh được tại một hiệu sách rất
phong phú trong một khu phố sầm uất ở bên Nepal. Khi đem quyển sách ấy lên máy
bay, tôi cứ ngỡ là mình sẽ có dịp đọc được thêm nhiều câu chuyện về những kinh
nghiệm
gian khổ và phi thường của Marpa khi ngài lặn lội đi cầu đạo nơi xa xôi
vạn dặm.

Quyển sách ấy có tựa đề là “Marpa,
Dịch Giả Tây Tạng Huyền Bí”
(“Marpa, Tibetan Translator Mystic”) do
Jungney Lhamo biên soạn (Heritage Publishers, New Delhi, India, 2010). Vừa về lại từ núi thiêng Lapchi nơi đức Milarepa
đã dầy công tu luyệnchứng quả Phật, nên đi đâu tôi cũng chỉ nghe thấy âm
hưởng
của Lapchi, và tôi mong muốn tìm hiểu nhiều, nhiều hơn nữa về người thầy quá
sức
dị thường này của Milarepa – vị đại đạo sư Marpa Lotsawa có một không hai!

Không
có chủ ý đọc về Dagmema nhưng sau một giấc ngủ dài trên máy bay, tôi tỉnh dậy,
nửa tỉnh nửa mơ, lật lật vài trang trong sách ra xem và rất tình cờ, đã mở ra
ngay đúng trang 156, gần cuối sách, trong đó có “Bài Ca Số 13.” Trong cuộc đời
chúng ta, hình như luôn luôn có những sự việc xảy ra bắt đầu bằng những sự ngẫu
nhiên
mà cũng chẳng thật phải là ngẫu nhiên. Đây là bài ca mà đại đạo sư Marpa
đã hát cho Dagmema nghe khi con trai của họ lìa đời. Tôi nghĩ rằng ngài đã hát
cho bà nghe bài hát này cũng vì sự đau đớn cùng cực và vì những giọt lệ tuôn ra
từ trong trái tim sầu khổ của bà. Trên chuyến bay dài xuyên qua đại dương vào nửa
đêm, tôi đã đọc đi đọc lại nhiều lần bài ca ấy.

Khi đọc xong thì bỗng dưng tôi lại nhớ
đến những giọt nước mắt sầu thảm của Dagmema nhiều năm sau nữa, khi Milarepa
quyết định ra đi. Lần ấy, ngài Marpa đã cho phép Milarepa trở về lại làng cũ,
và từ đó trở về sau, Milarepa tiếp tục lang thang, dong duỗi đến những rặng núi
hoang sơ để tu tập trong những hoàn cảnh cực kỳ gian khó, cho đến tận ngày đạt
thành chánh quảĐại đạo sư Marpa đã báo
trước
cho Dagmema và Milarepa biết rằng sau chuyến quy hồi cố hương ấy của
Milarepa thì có lẽ cả ba người sẽ không còn gặp lại nhau lần nữa trong cuộc đời
này. Khi nghe xong về những điều như thế, Dagmema đã động lòng, khóc lóc thảm
thiết
, y như khi con trai ruột của mình gặp phải tai nạn và qua đời.

Và khi ấy, đại đạo sư Marpa lại phải
khai thị và nhắc nhở bà. Trong những ngày chờ đợi ở Kathmandu để bay lên được
thánh địa Lapchi với sư phụ Garchen Rinpoche, hình như tôi đã có chép một đoạn
những lời khai thị này gửi đi cho các huynh đệ kim cang đọc.

Lạt Ma nói với bà rằng, ‘Dagmema,
vì cớ gì bà lại khóc? Bởi vì Mila đã thọ nhận các giáo huấn của dòng khẩu
truyền
từ Lạt Ma của hắn, và bởi vì bây giờ hắn sắp lên đường đi đến những rặng
núi hoang vu để tu tập ư? Như thế lại là lý do cho những giọt nước mắt hay sao?
Nguyên nhân chân chính nhất của những dòng lệ là suy niệm về tất cả các chúng
sinh
, tuy có đầy đủ khả năng để trở thành những vị Phật nhưng họ vẫn không tỉnh
giác
về điều này và sẽ chết đi trong đau khổ. Và lý do đặc biệt hơn nữa để cho
những giọt lệ tuôn rơi là suy niệm về những chúng sinh, cho dù đã đạt được thân
người hiếm quý nhưng cuối cùng vẫn sẽ phải lìa đời mà chẳng hề gặp được Giáo
Pháp
. Nếu vì những điều như thế mà bà nhỏ lệ khóc, thì hãy khóc liên tục không
ngưng nghỉ!’

Sư mẫu trả lời rằng, ‘Tất cả
những điều ấy là đúng. Nhưng thật là khó khăn để cảm nhận được một lòng từ bi
như thế ấy liên tục không ngưng nghỉ. Con trai ruột của tôi, là người đã đạt
được
trí tuệ và sự thấu hiểu về sinh tửniết bàn, là người lẽ ra có thể hoàn
thành
được mục đích lợi lạc cho bản thân và cho các chúng sinh khác, nhưng do
bởi
cái chết mà đứa con trai ấy đã phải xa lìa chúng ta rồi. Bây giờ, đến đứa
con trai này đây, tràn đầy lòng tín tâm, sự nhiệt thành, trí tuệtừ bi, là
người luôn luôn tuân thủ bất kỳ một yêu cầu hay đòi hỏi nào dành cho hắn. Hắn
hoàn toàn không có một lỗi lầm nào. Giờ đây, hắn lại sẽ rời xa chúng ta trong
khi đang còn sống. Đó là lý do tại sao tôi không còn chút sức lực nào để chịu
đựng
được niềm đau xót này.’

Sau khi đã nói xong những lời ấy, bà lại tiếp tục than van, khóc khóc. Còn tôi,
tôi đã nghẹn ngào trong những tiếng nấc. Chính Lạt Ma cũng đã rơi lệ. Đạo sư
đệ tử như nhau, cùng xót xa với những cảm xúc dành cho nhau và những giọt nước
mắt của chúng tôi đã làm ngừng bặt mọi ngôn từ.

Ngày hôm sau, bình minh ló
rạng. Đạo sư đem cho tôi rất nhiều lương thực dự trữ, và với khoảng mười ba
người đệ tử khác, cả đoàn cùng đi theo tiễn chân tôi trong suốt nửa ngày đường.
Trong cả khoảng thời gian ấy, họ bước đi với nỗi buồn trĩu nặng trong tim, nói
với tôi những lời thân ái và họ trao cho tôi những dấu hiệu của lòng mến thương.”
(Lhalungpa, trang 95)

Sau lần chia tay ấy thì ngài Marpa và Dagmema
không còn bao giờ gặp lại Milarepa trong cuộc đời ấy nữa.

***
Khi
về lại nhà sau chuyến đi xa, Bài Ca Cho Dagmema của đại đạo sư Marpa đã làm cho
tôi bỗng rất quan tâm đến bà và tôi phát tâm muốn viết bài giới thiệu này về bà
để chia sẻ về tấm lòng chân thành cầu pháphộ pháp của bà đối với Milarepa.

Nhưng tôi cũng có cảm giác mạnh mẽ là
cho dù không phải là Milarepa mà là bất kỳ ai khác, nếu họ lâm vào hoàn cảnh
như thế thì chắc chắn sự quan tâm của bà cũng không giảm kém. Bản thân bà đã
chịu nhiều đau khổ khi phải mất đi đứa con trai yêu quý. Cho nên rất có thể bà
đã xem Milarepa chẳng khác nào con ruột của mình để khỏa lấp cho sự mất mát quá
lớn lao kia. Nhưng trong suốt khoảng
thời gian Milarepa đã tìm đến được Drowo Lung, vất vả làm lụng, đổ móng, xây
các tòa tháp khác nhau thì con trai bà vẫn còn sống. Và khi ấy, sự lo lắng,
quan tâm của bà cho tên ‘Đại Phù Thủy’ – là kẻ đã tạo ác nghiệp và là một người
hoàn toàn xa lạ — cũng vẫn rất tròn đầy chẳng khác nào như đối với một người thân yêu

Khoảng mấy ngày cuối cùng trước khi cả
đoàn rời khỏi thánh địa Lapchi vào đầu tháng tám vừa qua, sư phụ Garchen Rinpoche
đã cho gọi tôi lên để dặn tôi cùng với một cô bạn người Mã Lai là hãy nhớ dịch qua
tiếng Việt và tiếng Hoa bài đạo ca cuối cùng mà ngài Milarepa đã hát trăn trối cho
Rechungpa trước khi ngài xả bỏ báu thân. Rồi ngay sau đó, sư phụ lại bảo thầy Gar
Tulku Chime Dorjee nhắc đi nhắc lại mấy lần với tôi rằng, “Con hãy nhớ luôn luôn
đọc tiểu sử của Milarepa, hãy thường xuyên đọc đi đọc lại tiểu sử của Milarepa.”
Tôi đã mạnh dạn trả lời sư phụ, “Dạ có, dạ chắc chắn có mà, con luôn luôn đọc,
thường xuyên đọc mà sư phụ!”

Thật sự là tôi đã vẫn luôn làm điều ấy từ trước đến nay. Tôi thường tìm được
những câu trả lời cho bản thân mình trong quyển tiểu sử của Milarepa và trong
pho sách “Trăm Ngàn Bài Ca” của ngài. Có một lần rất nhiều năm trước,
cảm thấy quá phiền não và bế tắc, tôi đã thành tâm khẩn nguyện sư phụ, rồi tôi ngồi
xuống, mở quyển sách tiểu sử Milarepa ra đọc. Lần ấy, tình cờ mà cũng không
phải là tình cờ, tôi giở vào đúng ngay cái trang có những hàng chữ sau đây (trong
bản Việt dịch của Đỗ Đình Đồng). Đây chính là ‘lời vàng của thầy tôi’
với sức công phá cực kỳ mạnh mẽ, đã hiện ra vào đúng thời, đúng lúc, để giúp
tôi thoát khỏi được cơn bế tắc tâm linh của mình:

Nếu cháu không giữ
được hạnh nhẫn nhục với một người như thím, là kẻ luôn luôn muốn làm hại cháu,
thì cháu còn giữ được hạnh nhẫn nhục với ai? Nhưng cháu có dùng cánh đồng đó để
làm gì? Nếu tối nay cháu chết đi, cháu đâu còn hưởng gì được nữa? Nhưng hạnh
nhẫn nhụccon đường chắc chắn để trở thành Phật, và vì thế, nó có giá trị
hơn cánh đồng nhiều.

Trước giờ trong khi đọc tiểu sử của
Milarepa, tôi cũng đã có ghi tâm về một số những câu chuyện liên quan đến
Dagmema. Tuy có đọc, có nhớ nhưng lâu nay tôi vẫn chỉ thấy bà là một cái bóng nhạt
mờ; tôi nghĩ bà chỉ đóng vai phụ, đôi lúc tôi lại còn lơ mơ nghĩ bà giống như một
người… ‘phụ việc vặt’ cho ngài Marpa. Mấy hôm nay, trong khi chờ đợi người hiệu đính
Anh ngữ gửi trả lại cho mình bản hiệu đính cuối cùng của tập sách tiểu sử của
Garchen Rinpoche mà tôi đang soạn, tôi đã dùng khoảng thời gian ‘ở giữa’ này để
ngồi đọc lại những mẩu chuyện về Dagmema trong tiểu sử của Milarepa.

Tôi mới ngẫm lại để thấy ra là, trong
suốt
cả quá trình rất dài và rất cam go mà đại đạo sư Marpa phải đóng vai hung
thần để hành hạ, thử thách Milarepa, và ngài Marpa đã bắt buộc phải đứng riêng
lẻ về một phía, thì chính những lúc ấy, bà Dagmema và Milarepa đã xuất hiện cùng
một lúc, cùng hiện hữu trong cùng một không gianthời gian. Những lúc
Milarepa xuống dốc đến mức độ cùng cực, và nhiều lần đã từng cùng cực như thế,
thì bà Dagmema đã hiện ra giống như một cây đại thụ giữa cánh đồng trống trong
ngày nắng gắt.

Và qua đó mà tôi cũng cảm nhận được một
cách rõ rệt hơn nữa, là đại đạo sư Marpa đã phải đóng vai hung thần lạnh cảm
trong vở kịch phẫn nộ như thế nào thì ngược lại, bà Dagmema cũng đã phải hoàn
thành
trách nhiệm của mình trong những màn kịch đầy lòng từ bi, mẫn cảm y như
thế ấy, để cưu mang, che chở cho người học trò có một không hai của đại đạo sư,
trong giai đoạn tịnh hóa ác nghiệp, và trong quá trình rèn vàng thử lửa cực kỳ
gian lao. Một ngày kia, khi ‘Đại Phù
Thủy’ đắc quả Phật thì chắc chắn toàn thể pháp giới, toàn thể chúng sinh trong sáu
nẻo luân hồi
cũng sẽ được hưởng ánh sáng từ bi-giác ngộ, chẳng khác nào như
trong hai giấc mơ tương ứng mà cả bà lẫn đại đạo sư Marpa đều đã nằm mộng thấy.

Nhân dịp này tôi đã chuyển dịch một số
mẩu chuyện và một vài bài ca liên quan đến Dagmema qua tiếng Việt. Những mẩu chuyện đã được ghi lại ở những đoạn
trên, còn đính kèm phía dưới bài giới thiệu này là ba bài ca: (1) Bài Ca Cho
Dagmema do đại đạo sư Marpa hát cho Dagmema khi Dodebum đột ngột lìa đời; (2) Bài
Ca Từ Biệt do Milarepa hát cho đại đạo sư Marpa và Dagmema và (3) Bài Ca Tiễn
Chân
Milarepa do chính Dagmema hát khi giã từ Milarepa. (Xin
xem tiếp những trang sau).

Tâm
Bảo
Đàn
_____________________________________________________
(*) Dagmema
/ Dakmema: Đắc-mê-ma
 
(**)
Dodebum / Dode: Đô-đê-bum hay Đô-đê

Bài Ca
Cho Dagmema

(Marpa)

Con xin quy mạng lễ chư tôn sư.

Đối trước vị phối ngẫu trí tuệ,
là người truyền bá và thấu hiểu Giáo Pháp,

Những lời khuyên này, ta muốn
nói với Dagmema (*).

Hãy bình tâm, đừng trộn lẫn tâm
ấy với những gì thế tục.

Hãy đánh thức sự kiên định
buông bỏ niềm đau.

Con trai chúng ta, Dodebum (**),
con trai mà chúng ta vô cùng trân quý,

Đã bước vào cảnh giới của tịnh
quang.

Và qua đó, lòng từ của con ta
có khác nào các đấng tôn sư.

Ta sẽ giải thích về điều này
xuyên qua bảy lời nhắc nhở về hư ảo.

 

Chẳng có ai để làm cho ta phải
sầu khổ.
Với tâm bình đẳng dành cho chúng hữu tình,

Hãy trân quý mọi chúng sinh với
lòng từ ái, Dagmema.
Dagmema, hãy xóa đi niềm sầu khổ về con trai chúng ta.
Kinh điển và những bản văn khác
Đã được chép lại bằng vàng,

Và những biểu tượng linh thiêng
của thân, khẩu và ý
Đã được kiến tạo

lợi lạc của Dode (**), con
trai chúng ta.

Nhưng Dode đã bước vào cảnh
giới
của tịnh quang.

Những biểu tượng linh thiêng
trở thành vô chủ,
Khác nào cầu vồng giữa trời.

Với sự trực ngộ rằng tất cả các
huyễn tướng đều rỗng rang,

Ta chẳng thể tìm ra được một ai
để cưu mang, chăm sóc.

Tuy thế, hãy cúng dường lên tất
cả những ai xứng đáng, Dagmema.

Ôi Dagmema, hãy xóa đi niềm sầu
khổ
về con trai chúng ta.

 

Mật điển và các luận giải được thu
thập xuyên qua gian khó,

Những giáo lý trực chỉ của tinh
túy
cô đọng,

Cốt tủy của những gì ta đã góp
nhặt,

Những pháp tu thâm diệu này,

Cùng với những bản dịch qua
ngôn ngữ văn chươngthông dụng,

Tất cả đã được học hỏi cũng bởi
lợi lạc của Dode, con trai chúng ta.

Nhưng Dode đã bước vào cảnh
giới
của tịnh quang.

Giáo Pháp trở thành vô chủ,
Khác nào trong tay ta chỉ có một danh sách liệt kê châu báu.
Với sự trực ngộ rằng Giáo Pháp hoàn toàn bình đẳng,

Ôi Dagmema, hãy ban rải Giáo
Pháp
ấy cho tất cả.

Ôi Dagmema, hãy xóa đi niềm sầu
khổ
về con trai chúng ta.

 

Thức ăntài sản gom góp trong
cần kiệm,

Cùng lũ gia súc và đàn cừu mà các
đệ tử đã cúng dường,

Tất cả đã được tích lũylợi
lạc
của Dode, con trai chúng ta.

Nhưng Dode đã bước vào cảnh
giới
của tịnh quang.

Tài sản trở thành vô chủ,
Khác nào của cải chôn dưới lòng đất chưa người khai quật.

Với sự trực ngộ rằng mọi sở hữu
là Đại Ấn Mahamudra,

Làm gì có nhu cầu phải chăm nom,
giữ gìn các thứ ấy.

Ôi Dagmema, hãy cho đi tất cả.

Ôi Dagmema, hãy xóa đi niềm sầu
khổ
về con trai chúng ta.

 

Các tòa nhà và những cánh đồng
nơi quê cha đất tổ Pesar,

Và tòa tháp mà Mila đã khổ công
xây đắp,

Tất cả cũng vì lợi lạc của
Dode, con trai chúng ta.

Nhưng các tòa nhà trở thành
chủ,
Khác nào kinh thành của các hương thần gandharva.

Với sự trực ngộ mảnh đất này
chính là hiện tướng-tánh không huyễn ảo,

Bám chấp và tham luyến vào
chúng chỉ là phù phiếm mà thôi.

Ôi Dagmema, hãy buông bỏ mọi bám
chấp và tham luyến.

Ôi Dagmema, hãy xóa đi niềm sầu
khổ
về con trai chúng ta.

 

Đối xử lịch thiệp với quyến
thuộc
trong gia tộc Mar,

Nhưng quay lưng lại với kẻ thù
và những người làm ta khó chịu,

Tất cả cũng vì lợi lạc của
Dode, con trai chúng ta.

Nhưng Dode đã bước vào cảnh
giới
của tịnh quang.

Với sự trực ngộ rằng hiện tướng
chính là tâm,

Thì có sự khác biệt nào giữa kẻ
thù
và bằng hữu.

Ôi Dagmema, hãy thiền định về
tất cả như pháp thân.
Ôi Dagmema, hãy xóa đi niềm sầu khổ về con trai chúng ta.

Nói chung, đấy chính là đặc
tánh của tất cả những gì giả hợp,

Rốt ráo, chúng chẳng thể nào
vĩnh viễn thường còn.

Nói riêng, sự nối kết và mối
liên hệ giữa chúng ta và Darma Dode

Đã kết thúc.

Đây là nghiệp của chúng ta,

Chẳng thể nào làm gì khác được.

Ôi Dagmema, đừng đau lòng nữa.

Ôi Dagmema, hãy xóa đi niềm sầu
khổ
về con trai chúng ta.

 

Có còn gì đâu ngoài Giáo Pháp cho
chúng ta.

Hãy đối xử từ hòa với những kẻ cùng
khốn.

Chúng ta còn lại sáu đứa con
trai,

Nhưng chẳng có hy vọng gì chúng
sẽ trở thành những người trì giữ các giáo huấn.

Dù thế, hãy trân quý chúng bằng
lòng từ ái,

Như đã từng trân quý Darma Dode
của chúng ta.

Ôi Dagmema, đừng đau lòng nữa.

Ôi Dagmema, hãy xóa đi niềm sầu
khổ
về con trai chúng ta.

 

Nương theo lời tiên tri của Đại
học giả
Naropa,

Dòng truyền thừa của các đệ tử-các
con yêu của ta

Sẽ rực rỡ như trăng rằm,
Ngày càng chiếu sáng, ngày càng lan tỏa.

Những giáo huấn Khẩu Truyền
Kagyu sẽ hưng thịnh và trải rộng, lan xa.

Những lợi ích vĩ đại dành cho
các giáo huấn và cho chúng sinh

Sẽ viên thành.

Ôi Dagmema, hãy hoan hỉ, hãy
hạnh phúc.

Ôi Dagmema, hãy xóa đi niềm sầu
khổ
về con trai chúng ta.
(Lhamo, trang 156-159)

______________________________________

Bài Ca Từ
Biệt

(Milarepa)

Lạt Ma nói, ‘Hai chúng ta, cha
và con [sư phụđệ tử], hãy cùng nhau thiền định. Này phối ngẫu tâm linh, hãy
chuẩn bị một đại tiệc.’ Trong khi chúng tôi dâng các phẩm vật cúng dường thì
Lạt Ma lại nói với tôi: ‘Con trai ta, con đã gặt hái được những hiểu biết chân
chính
như thế nào từ những giáo huấn đặc biệt của ta? Hãy thư giãn và hãy nói cho
ta biết những cảm nghiệm và chứng nghiệm cùng sự hiểu biết mà con đã đạt được.‘

 

Trong một hành động chứa chan
sự tín tâm và lòng tôn sùng đối với Lạt Ma, tôi đã quỳ xuống và chắp hai bàn
tay lại. Mắt tôi đẫm lệ. Tôi cung kính đảnh lễ ngài [để tạ ơn] về tất cả những
gì mà tôi đã thấu triệt, và tôi đã hát Bài Ca Bảy Nhánh Quy Ngưỡng:

 

Ôi Đạo Sư, dưới mắt của những
kẻ phàm phu đang cầu đạo,

Ngài hóa hiện trong muôn vàn hình
tướng

Nhưng đối trước hải hội chư Bồ
Tát
thuần khiết,

Ngài hiện ra trong Báu Thân Phật,
con xin đảnh lễ ngài.

 

Ngài đã tuyên thuyết, vang lừng
âm thanh của sáu mươi diệu âm của Phạm Thiên,

Về giáo lý thiêng liêng, xuyên
qua
tám vạn bốn ngàn pháp môn vi diệu,

Người người đều hiểu rõ, xuyên
qua
từng ngôn ngữ riêng.

Con xin đảnh lễ trước kim khẩu
của ngài,

Không tách lìa khỏi tánh Không
vốn sẵn có.

Trong pháp giới của Pháp thân
linh độngsáng tỏ,

Không có ô nhiễm nào của đối
đãi
nhị nguyên,

Nơi ấy bao trùm trí tuệ toàn
tri
toàn giác.

Con xin đảnh lễ tâm thức của
Pháp Thân Bất Động.

 

An trú nơi cung điện của tánh
Không
thanh tịnh,

Dagmema Bất Động – trong sắc thân
huyễn ảo,

Là Mẹ của Chư Phật trong ba
thời.

Dagmema, con xin quy mạng lễ.

 

Ôi Đạo Sư, với lòng kính ngưỡng
chân thành, con cũng xin đảnh lễ
Chư vị đệ tử tâm linh mà ngài đã thu phục trước đây,

Là những đứa con yêu luôn tuân
hành
mệnh lệnh,

Cùng vô lượng những môn đồ đang
theo gót chân ngài.

 

Xin
cúng dường lên Đạo Sư thân này của con,

Cùng tất cả những gì đáng giá
có thể hy sinh,

Trong toàn bộ pháp giới, trong
toàn thể vũ trụ.

 

Con xin sám hối tất cả các tội
lỗi
đã tạo, mỗi một nghiệp đã gieo,

Xin tùy hỉ với các thiện hạnh
của muôn người khác,

Xin thỉnh cầu ngài chuyển bánh
xe Pháp
rộng và xa.


Con nguyện cầu Lạt Ma toàn hảo tối thượng sẽ mãi trường thọ

Cho đến ngày chúng sinh trong
toàn cõi luân hồi không còn sót lại một ai.

Nguyện công đức tâm linh của
con sẽ đem lại lợi lạc cho tất cả.

Con không đến trước Lạt Ma cùng
vị phối ngẫu tâm linh của ngài để đền đáp công ơn của chư vị – sư phụsư mẫu
của con với sự thiện lành không thể sánh – bằng những phẩm vật đắt giá hay qua
công đức phụng dưỡng. Nhưng ngày nào con
còn sống thì con nguyện xin dâng lên những gì tốt lành nhất trong khả năng của
con mà con đã đạt được qua công phu thiền định, và con nguyện xin chư vị hãy
đón nhận sự thấu hiểu rốt ráo tối thượng mà con cũng sẽ đạt được trong cung
điện Ogmin.’ (Lhalungpa, trang 75-79)

____________________________

Bài Ca Khi
Tiễn Chân Milarepa

(Dagmema)

Và rồi Lạt Ma nói, ‘Con trai
ta, ta có niềm hy vọng to lớn và hy vọng của ta đã trọn thành.’ Tâm ngài tràn
đầy niềm hoan hỉSư mẫu cũng nói, ‘Đứa
con trai này của ta có một sức mạnh của tâm để có thể đạt được thành tựu
đại.’

‘Hãy giữ gìn những lời này của ta trong ký ức và hãy hành trì, đừng lãng quên.’
Nói như thế xong, Lạt Mạ bày tỏ một niềm hỷ lạc lớn. Sau đó, sư mẫu đã cho tôi
rất nhiều lương thực dự trữ, áo quần và giầy bốt mới. Và rồi, bà nói:

 

‘Con trai ta, những thứ này mà
ta cho con như là lời từ biệt theo hình thức thế gian, những thứ ấy chỉ thuần
vật chất. Bởi vì đây là cuộc hội ngộ lần cuối cùng của chúng ta như mẹ và
con trong kiếp này, ta mong ước cuộc ra đi này của con sẽ tràn đầy hoan lạc. Ta
cầu nguyện rằng ở Bờ Bên Kia, chúng ta sẽ lại được tái hợp cùng nhau nơi Cảnh
Giới
Urgyen của các Thiên Nữ Dakini. Ta mong con sẽ không quên những lời ca mà
ta sẽ hát lên từ trái tim mình, hãy xem đây như là một sự giã biệt tâm linh.’

 

Bà tặng cho tôi một cái kapala
(bình bát sọ người) và một chiếc bình chứa đầy rượu nghi lễ, và rồi bà cất
tiếng
hát bài ca sau đây:

 

 Ta
xin đảnh lễ dưới chân Marpa tột cùng độ lượng.

Con trai ta, với sức mạnh của
tánh kiên trì và lòng kham nhẫn,
Với sự dịu dàng, vững chãi, ngập tràn tình cảm mến thương,
Ôi con trai may mắn của ta ơi,
Hãy uống cạn cam lộ của Lạt Ma,
Rượu thơm của trí tuệ toàn hảo,

Hãy uống cho tận cùng thỏa mãn,

Và rồi hãy ra đi.

Nguyện cho chúng ta sẽ gặp lại
nhau nơi cõi Tịnh Độ,

Như sự tái hợp của những người
bạn quý.

 

Không hề quên cha và mẹ của
con,

Trong cơn hiểm nghèo, hãy khẩn
gọi không ngừng nghỉ.
Hãy ra đi sau khi đã thọ hưởng các giáo lý,

Thọ hưởng những gì nuôi dưỡng
trái tim con.

Hãy nuốt sâu vào lòng và hãy quyện
hòa với chúng.

Nguyện cho chúng ta sẽ gặp lại
nhau nơi cõi Tịnh Độ,

Như sự tái hợp của những người
bạn quý.

 

Chẳng bao giờ quên, hãy luôn
nhớ nghĩ đến lòng từ

Của cha và mẹ từ bi,
Và hãy kiên cường trong khi tu tập.
Hãy khoác lên tấm áo ấm nồng hơi thở

Của các Thiên Nữ Dakini,

Để sưởi ấm trên con đường thiên
lý.

Nguyện cho chúng ta sẽ gặp lại
nhau nơi cõi Tịnh Độ,

Như sự tái hợp của những người
bạn quý.

 

Chẳng bao giờ quên chúng sinh
bất lực,

Hãy để tâm an trú trên con
đường
tỉnh giác
Đưa con đến giác ngộ.

Hãy khát khao đem lại sự giải
thoát
cho toàn thể pháp giới,

Và khi bước chân ra đi,
Hãy cưu mang Giáo Pháp trên đôi vai

Bằng sức mạnh vĩ đại.

 

Con trai ta ơi, ta, Dagmema, là
người với nhiều may mắn,

Đã hát cho con nghe tự trái tim
mình.

Hãy cất giữ những lời này trong
trái tim con.

Đừng quên chúng.

Mẹ của con sẽ nhớ nghĩ đến con.

Mẹ và con, tâm thức và trái tim
hai chúng ta cùng hòa hợp.

Nguyện cho chúng ta sẽ gặp lại
nhau nơi cõi Tịnh Độ,

Như sự tái hợp của những người
bạn quý.

 

Nguyện cho lời cầu nguyện này của
ta sẽ được viên thành.
Nguyện cho con đền đáp được lòng từ của Lạt Ma bằng công phu hành trì Giáo
Pháp
.

 

Sau khi đã hát những lời như
thế, bà đã nhỏ lệ khóc rất nhiều. Và tất cả những người có mặt cũng đều khóc
sướt mướt và bày tỏ sự đau buồn. Còn tôi, tôi đã đảnh lễ và chạm đầu tôi vào
đôi chân của sư phụsư mẫu. Tôi xin các vị hãy ban cho tôi sự gia trì. Rồi cứ thế mà tôi đi lùi về phía trước mặt cho
đến
khi tôi không còn nhìn thấy được khuôn mặt của Lạt Ma nữa. Những người có
mặt ở đấy, nước mắt đầm đìa, tiếp tục dõi trông theo tôi. Tôi miễn cưỡng bước chân
ra đi. Cuối cùng, khi nhìn thấy là giờ đây sư phụsư mẫu đã xa tít tắp không
thể nhìn thấy được nữa thì tôi mới [quay lưng lại và] bước tới phía trước mặt,
và sau khi băng qua một thung lung nhỏ thì tôi mới quay đầu nhìn lại. Lạt Ma
các môn đồ vẫn còn đứng ở chỗ cũ, hiện ra giống như là một khối màu nâu ở tận
phía xa xăm. Tôi tự hỏi không biết tôi có sẽ bao giờ quay trở về lại nữa hay
không. (Lhalungpa, trang 99-100) 

 

Tâm Bảo Đàn
California,
cuối tháng 8/2012


Bản PDF: BÀI CA CHO DAGMEMA Tâm Bảo Đàn


Đánh giá

Leave a Comment

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Scroll to Top